Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Bán trâu




Kính dâng lên hương hồn Ngoại của tôi


Gà vừa gáy dứt canh năm, bà Tư đã lom khom trở dậy. Bà bước tới bàn thờ, nơi lúc nào cũng có một ngọn đèn dầu leo lét cháy để thắp thêm một ngọn đèn dầu khác rồi chậm rãi đi xuống bếp. Bà vo gạo, bắt nồi cơm lên bếp, nhóm lửa thêm ông táo bên kia để hâm lại nồi thịt kho tàu. Lửa cháy sáng bập bùng. Củi khô trong lò kêu lách tách. Bà bước ra sân, tới bên cây rơm rút ra một bó và ôm lại bỏ vào máng cỏ cho hai con trâu ăn dặm thêm chút rơm cho chắc bụng trước khi ra đồng gặm cỏ. Ánh trăng hạ tuần lờ mờ sáng, bóng những nhành tre hắt lên mảnh sân cát trắng những đường nét mong manh, đậm nhạt, thỉnh thoảng lại lay động khi có gió nổi lên. Bóng bà cũng hắt lên sân, đơn lẻ, nhỏ nhoi, nhẫn nhục. Bà đứng nhìn cái bóng của mình một lúc rồi lại vào nhà để trông chừng nồi cơm. Từ phía nóc nhà bên phải, con tắc kè già chợt uốn lưỡi kêu re re mấy tiếng lấy giọng để bắt đầu cho một loạt tắc kè, tắc kèèè… quen thuộc, buồn buồn. Hôm nay nó kêu mười hai tiếng, vậy là trời nắng. Con tắc kè này đã sống chung một mái nhà với bà cả chục năm rồi. Nó là một người bạn già của bà. Có đôi khi lên thành phố thăm con cháu, giữa đêm khuya bà chợt nhớ tiếng kêu của nó lạ lùng.
Sau khi đã dọn xong bàn cơm, bà Tư tới gần tấm phản kêu nho nhỏ: “An à, Tú à, dậy ăn cơm rồi đi sớm cho mát, mấy con.”
Hai đứa nhỏ lồm cồm trở dậy, chạy ra sân súc miệng rồi bước vào nhà ăn cơm.
Thằng An là đứa ở chăn trâu. Năm đó lụt lớn, quê nó mất mùa, ba má nó có người quen gần nhà bà Tư nên dắt nó tìm đến xin gửi cho nó ở lại chăn trâu giúp việc, tiền công xá bà muốn cho bao nhiêu cũng được, chỉ vì nhà nghèo mà quá đông con nên túng thế phải tùng quyền. Trước giờ, bà Tư vẫn gửi hai con trâu cho trẻ trong xóm chăn giữ giùm, mỗi năm mua cho chúng đôi ba tấm áo, thêm chút đỉnh tiền lì xì Tết. Nhưng cảm thương hoàn cảnh nhà thằng An, bà gật đầu đồng ý. Thế là nó ở với bà từ đó đến nay. Còn thằng Tú là cháu ruột, con của cô Hai con gái lớn của bà, mới về quê thăm bà hồi chiều hôm qua. Má nó theo người quen lên Sài Gòn tập tành làm ăn buôn bán từ hồi mới mười mấy tuổi, sau đó lấy chồng rồi cũng ở lại đó luôn. Bà chỉ có hai người con, thằng Ba lớn lên đi quân dịch bị cụt giò, về ở với bà được vài năm rồi cũng ra thị trấn mướn nhà mở tiệm sửa đồ điện tử. Thằng Ba nói rằng nó là thương phế binh còn có một giò, làm ruộng ráng ráng thì cũng được nhưng sao cho lại người ta. Thôi thì có cái nghề học được hồi còn nằm trong quân y viện, nó lấy đó làm miếng sinh nhai, còn ruộng nương đành bỏ phế. Mấy năm qua chiến tranh khốc liệt, làm ruộng cũng không được yên ổn, chỉ còn nước vào chợ sống qua ngày.
Nhiều khi bà nghĩ chắc là phần số của mình phải sống lẻ loi như thế, thôi cũng đành chấp nhận. Lâu lâu con gái lớn dẫn mấy cháu về thăm, bà đã lấy làm vui rồi. Dịp này thằng Tú vừa thi đệ nhất lục cá nguyệt xong, nó được nghỉ mấy ngày nên đón xe đò một mình về thăm ngoại. Lẫm rẫm mà nó cũng đã sắp thành người lớn rồi, bà nghĩ tới đó, thấy vừa mừng vừa lo. Thời buổi chiến chinh giặc giã, con trai lớn lên không đi theo phe này cũng phải đi theo phe nọ, sống chết khó lường. Như ông Tư chồng bà, hồi chín năm kháng chiến chống Pháp, sau vài lần ghé về thăm bà đã bặt tin mất tích từ ấy đến nay.
Bà Tư nhìn hai đứa nhỏ ăn uống ngon lành, thấy vui vui trong bụng. Bà nói với chúng: “Hai đứa con đi nhớ đội nón cho cẩn thận, nắng này để đầu trần là cảm như chơi. Thằng An rành rẽ đất cát ở đây, con phải nhắc nhở thằng Tú, nghe con.”
Thằng An gật đầu dạ nhỏ. Còn Thằng Tú thì nhăn mặt. “Ngoại coi mình còn con nít lắm hay sao mà kêu thằng An làm giám hộ cho mình chớ,” nó bực bội nghĩ thầm. Nhưng khi nhìn lại bà ngoại, mái tóc đã bạc hơn nửa phần, gương mặt hằn sâu những nếp nhăn do tuổi tác và những buồn lo, nó bỗng thấy nao lòng và thương ngoại nó vô cùng.
Trời vừa tờ mờ sáng, Tú theo An dẫn trâu ra bưng. Thằng An cho hai con trâu của bà Tư nhập bầy với mấy con trâu của một bạn mục đồng khác, nhờ nó coi chừng giùm, rồi dẫn thằng Tú đi tới một con suối nhỏ.
Hai đứa đi men theo bờ suối cho tới khi gặp một cụm da xà cổ thụ, với những chùm rễ to dài mốc thếch như những con mãng xà đáng sợ đang thòng đầu xuống mặt nước. Ở mé bờ bên kia cũng có nhiều lùm bụi ô rô cóc kèn dày đặc. An nói với Tú: “Mình sẽ tát cá ở đây. Chỗ này nước không sâu lắm, bờ hẹp nên dễ tát. Mầy biết hôn Tú, tụi cá tôm chúng nó ưa mấy chỗ bóng ‘gâm’ với cây cối nhiều ‘dầy’ nè. Còn chỗ mấy cái ‘gễ’ cây đâm ‘ga’ bờ suối là chỗ mấy con cá lóc cá lăng thích chọn làm hang ổ…”
Tú vừa thích thú nghe An giảng giải, vừa làm theo những hướng dẫn của nó.
Thằng An bày cho nó móc bùn lên, đắp chặn ở một đầu suối, rồi đi ngược lên phía trên thượng nguồn con suối, cách chừng mười mét, tiếp tục đắp bờ còn lại. Sau đó hai đứa bắt đầu hì hục tát nước xuống mé hạ lưu dòng suối. Chúng làm việc một cách hăng hái với hai cái gàu mà thằng An đã xách theo sẵn. Tuy nhiên, thằng Tú vốn là “công tử bột” nên làm được chừng mười lăm, hai mươi phút, nó lại nhảy lên bờ, tới bên gốc da xà ngồi thở một lúc. Nó vừa ngồi nhịp nhịp chân vừa nhìn ngó mông lung. Ngó thằng An vẫn đều đều tát nước. Ngó những đám mây trắng xốp như bông gần như đứng yên không di động trên bầu trời xanh ngắt. Ngó về mé trảng cỏ rộng thênh trải dài tít tắp, nơi những đám chuồn chuồn đang bay rập rờn trong nắng, nơi những con trâu đang gặm cỏ tuốt đằng xa, thu nhỏ lại bằng những con chuột cống. Nhìn chán chê, nghỉ ngơi khoẻ khoắn rồi, nó lại nhảy xuống tiếp tay với thằng An. Sau gần ba tiếng, nước cạn dần, để lộ ra những cái lưng cá đen nhẻm, chắc nịch đang quẫy lách chách trong bùn. Tát hết đoạn suối đó, hai đứa bắt được cỡ năm ký cá tràu, trê, rô các loại và cả một mớ tép, cua đồng.
Bắt được cá, thằng Tú khoái chí lắm, nhưng nó cũng thấy mệt đừ người. Phần khác, nó muốn giữ cho mấy con cá lia thia sống để đem về thành phố. Nó nói với thằng An: “Thôi, chắc tao phải về trước để rộng mấy con cá, chứ đợi tới chiều chắc chúng chết hết. Mầy dẫn tao ra tới đầu bưng là tao tự biết đường đi về nhà Ngoại được rồi. Có gì, mai tao xin Ngoại đi chăn trâu với mầy suốt cả ngày luôn, chịu hông?”
Dĩ nhiên là thằng An phải gật đầu đồng ý rồi. Và thế là thằng Tú quay về nhà một mình với cái rộng cá đeo lủng lẳng bên hông. Về tới nhà, nó đưa cho bà ngoại nó cái rộng cá, chạy ra giếng kéo nước lên xối sơ vài gáo, rồi leo lên phản đánh một giấc thẳng tới chiều, bỏ luôn buổi cơm trưa.
***

Chiều buông êm ả. Gió thổi rao rao qua bụi tre tàu ở mé đầu hồi bên phải, thỉnh thoảng lại nổi hứng uốn quằn mấy thân tre sang một phía, làm những nhánh lá rung lên xào xạc. Nắng xế dìu dịu xuyên qua tàng lá rậm, rọi xuống mặt sân những đốm tròn tròn vàng nhạt lung linh. Thằng Tú khệ nệ bưng cái hũ thủy tinh lớn tới một chỗ có đốm nắng xòe ra lớn bằng cái quạt mo cau. Nó đặt cái hũ xuống rồi ngồi chồm hỗm kế bên, thích thú nhìn mấy con cá lia thia trống đang giương vây trừng nhau trong hũ nước. Dưới ánh nắng, đầu và vây chúng ửng lên sắc đỏ tía, xanh lam.
Mấy con cá kia Ngoại đã rộng vào cái lu sành để ăn dần. Còn mấy con cá lia thia này, thằng Tú nhất định phải đem về thành phố để khoe với đám bạn học của nó, và để làm bằng chứng cho câu chuyện hào hứng lâm ly mà nó đã bày sẵn trong đầu về “công cuộc ngăn sông tát cá” của nó. Nó khoái chí khi tưởng tượng ra những cặp mắt mở to và những cái miệng há hốc vì say mê và tò mò của lũ bạn khi nó trổ tài huênh hoang khoác lác. Nghĩ tới đây, nó bật cười khúc khích một mình, rồi lại nghiêng đầu ngắm nghía mấy con cá. Bất chợt, nó nhận ra mình đang ngâm nga rủ rỉ mấy câu hò mà cô giáo Hương ưa thích: “Hò ơ… Nước trong leo lẻo con cá lội ngược dòng. Anh nói anh thương quê mình lắm mà sao anh vẫn nằm chèo queo…Con cá lội ngược dòng lên kinh Xẻo Lấp. Anh thương quê mình thì tức tốc đi ngay. Chứ cứ dùng dằng ở lại nơi đây. Làng trên xóm dưới họ trách rầy mình đa anh…” Cô giáo giảng giải rằng câu hò này có ở quê cô lâu lắm rồi, được đặt ra để động viên những chàng trai hăng hái lên đường tham gia kháng Pháp. Cô dạy nó lớp nhì hồi năm ngoái. Năm nay lên lớp nhất nó học thầy Tùng. Nhưng thầy Tùng nghiêm quá ể, lại không hay hát hò, đọc thơ cho bọn nó nghe như cô Hương, nên Tú nhớ cô nhiều lắm. Mỗi giờ chơi, nó lại chạy tới cửa lớp, khoanh tay cúi đầu chào cô, chờ cô mỉm cười đáp lại hay bước ra vuốt đầu nó một cái, xong xuôi nó mới chịu chạy ra chơi giỡn với bạn bè.
Từ trong nhà, mùi cá tràu kho tiêu bay ra thơm lựng. Một lát sau, bà Tư bước ra sân. Bà mỉm cười hỏi thằng Tú: “Lâu nay má con có kho cá kiểu của ngoại cho mấy đứa bây ăn hôn?”
“Má bận việc buôn bán nên hay kho lạt cho nhanh Ngoại à. Con thèm món cá kho tiêu vừa cay vừa mặn mòi của Ngoại lắm. Phải chi Ngoại lên thành phố sống với tụi con luôn…” Tú vừa đáp vừa đưa ngón tay khỏ khỏ lên thành hủ để chọc tức một con cá hung hăng đang phồng mang lượn lờ đuổi cắn mấy con nhỏ hơn.
Không nghe Ngoại nói gì, nó ngạc nhiên ngẩng đầu lên nhìn Ngoại.
Nét mặt Ngoại trầm ngâm, đôi mắt mờ đục buồn buồn của Ngoại nhìn ra bụi tre, nhìn lên phía mé sông, nhìn quanh cây cối trong vườn, nhìn qua cái ảng nước cho trâu uống vốn là một cái nồi nấu cơm quân dụng bằng sắt to đùng, nhìn tới cái chuồng trâu ở chái nhà, nơi những cây cột gỗ đã lên nước bóng loáng do hai con trâu cọ mình gãi ngứa biết bao năm lên đó. Rồi Ngoại nói khẽ:“Ngoại sống ở đây lâu rồi, quen rồi, đi lên đó có con cháu thì vui được chốc lát, nhưng ngoại lại nhớ nơi đây lắm, con à.”
Thằng Tú nhìn ngoại nó với đôi mắt tràn ngập thương yêu. Ngoại là người có học, thích đọc sách và còn biết làm thơ nữa. Má nó kể hồi còn trẻ, Ngoại là hoa khôi của cả một vùng, thanh niên trai tráng đeo đuổi nhiều vô số kể. Vậy mà số Ngoại lại truân chuyên quá đỗi. Chồng đi kháng chiến chống Pháp rồi mất tích luôn từ hồi Ngoại còn rất trẻ. Ngoại ở vậy nuôi con. Hồi nó còn nhỏ, Ngoại lên nhà chăm nom nó để má đi bán. Đến năm nó lên ba tuổi, đi nhà trẻ, Ngoại mới quay về quê. Lúc đó ở quê còn có cậu Ba chăm lo vườn ruộng. Còn bây giờ… bây giờ Ngoại đã già yếu, cậu nó lại bỏ nhà ra nơi phố chợ đông vui.
Ngoại ở quê một mình thui thủi ra vào. May mà còn có thằng An. Ban ngày nó đi chăn hai con trâu, nhưng tối đến lại cùng cơm nước, chuyện trò với Ngoại. Hè năm trước về quê, có lần Tú đã nổi cơn ganh tỵ vì thấy Ngoại nói cái gì cũng nhắc tới thằng An, lúc nào cũng lo lắng quan tâm tới nó. Nào là:“Sao bữa nay ăn ít cơm vậy An, con có cảm cúm trúng gió thì nói để bà cạo gió…” Nào là: “An à, sáng mai con lùa trâu ra bưng nhớ đem theo mấy cái bánh ít bà để sẵn trong cái giỏ đệm nghen…” Nhưng sau đó, nó nghĩ đi nghĩ lại, thấy Ngoại thương thằng An cũng đúng. An ở với Ngoại từ năm tám tuổi, đến nay đã mười ba tuổi. Nó ở với ngoại suốt năm năm trời, chỉ có dịp Tết mới về quê thăm cha mẹ đôi ba bữa. Có nó, ngoại cũng đỡ phần lẻ loi hiu quạnh. Ở lâu tất phải mến tay mến chân. Vả lại, tiếng là ở đợ, thật ra Ngoại coi thằng An như con cháu ruột rà, có gì cũng chia sớt cho nó, thậm chí còn dạy cho nó biết đọc biết viết, biết tính toán cộng trừ. Ngoại cũng nào phải là người giàu có, là địa chủ gì đâu, chỉ có ba sào ruộng nát và hai con trâu để làm ruộng vần công với người ta. Còn nó, dù là cháu ruột của Ngoại, nhưng lâu lâu mới về thăm Ngoại một lần. Lần đó, sau khi suy ngẫm, nó gật gù ra vẻ ta đây rồi nói với Ngoại: “Con biết Ngoại thương thằng An hơn thương con. Nhưng không sao Ngoại à. Nó ở đây hàng ngày với Ngoại, có trái gió trở trời gì cũng chỉ có mình nó lo cho Ngoại, chứ con ở thành phố đâu có hay, đâu có lo cho Ngoại được.”
Nó quay sang thằng An, tiếp tục lên mặt ông cụ non, “An nè, mầy may mắn được Ngoại tao thương yêu, thì phải thương Ngoại tao thật nhiều đó, nghe không. Tao với mầy là bằng hữu, là anh em kết nghĩa. Ngoại của tao cũng là Ngoại của mầy. Hôm nào tụi mình bắt chước mấy anh em Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi Đào viên kết nghĩa ngày xưa, cùng cắt máu ăn thề nghe mậy. À, mầy có biết chuyện mấy ổng hôn? Hổng biết thì tối nay tao kể cho nghe há.”
Thằng An lớn hơn nó hai tuổi, lẽ ra nó phải kêu bằng anh, nhưng nó ỷ mình biết chữ, đọc được nhiều truyện hay tích lạ, hiểu biết nhiều chuyện thế thái nhân tình, lại là dân “Sề Gòn” nữa, nên cứ xưng hô mày tao. Mới đầu hơi ngượng, nhưng lâu dần thành quen lại thấy khoái hơn là anh em này nọ. Nhà An ở tỉnh nào đó xa lắm, ba má nó nghèo rớt mồng tơi nên mới cho nó đi ở đợ…
Xa xa, ngoài con đường làng cát trắng, văng vẳng có tiếng mỏ trâu lốc cốc, rồi tiếng mỏ lớn dần. Có đôi ba con nghé ọ lên mấy hồi như nhõng nhẽo với trâu mẹ của chúng, rằng, má ơi, sao mà về chuồng sớm thế, ngoài đồng còn biết bao nhiêu cuộc vui chưa dứt… Từng đàn trâu lớn nhỏ lần lượt đi qua trước ngõ nhà bà Tư, theo sau là những cô bé, chú bé chăn trâu. Tay chân chúng đen bóng, gò má chúng ngăm ngăm mà lại ửng hồng do suốt ngày phơi dưới nắng. Đứa nào cũng đeo bên hông một cái giỏ tre nằng nặng, trong đó chắc chắn phải có vài con cá, ếch nhái hay rắn nước bắt được ngoài đồng trong lúc thả trâu ăn cỏ.
Con Pháo và con Xe, hai con trâu đực của bà Tư đã bước qua cái ngõ nhỏ trước sân, theo sau là thằng An.
An cúi đầu chào bà Tư rồi nói lớn: “Bà à, sáng mai bà cho thằng Tú theo con qua trảng lớn chơi rồi ở đó tới chiều luôn mới dìa nghen bà. Cỏ mé dưới này gần hết ‘gồi’, trâu xóm mình phải chuyển lên đó gặm khoảng hơn tuần cho cỏ nó mọc lại.” Nó quay sang thằng Tú nháy mắt, “Nè, ngày mai qua trảng lớn, tao sẽ chỉ cho mầy coi thứ này ngộ lắm nghen.”
Tú cười đáp lại. Nó quay sang nhìn hai con trâu đang đủng đỉnh bước tới cái ảng nước. Chúng cúi đầu xuống ảng uống một hơi dài thỏa thích. Sau đó, chúng lại đủng đỉnh bước tới cửa chuồng. Con Pháo là đàn anh nên luôn luôn đi sau. Nó chờ cho con Xe bước hẳn vào chuồng rồi mới bước tới cửa chuồng, cọ lưng vào khung cửa. Nó cọ tới cọ lui một lúc, cái đầu to tướng lúc lắc làm mấy cái mỏ treo ở cổ chạm nhau kêu lốc cốc. Cặp sừng to dài của nó hình như cũng lên nước theo tuổi đời, đen bóng dưới ánh nắng chiều sắp tắt. Theo lời thằng An, nó là một trong ba con trâu có cặp sừng lớn nhất trong xã. Khi ra đồng cỏ, nó là thủ lĩnh của tất cả những bầy trâu của các hộ trải dài từ mạn Bến Đục cho tới giáp mí đồng ông Cả Mẫn. Thằng An chờ cho hai con trâu vào chuồng xong, bước tới gài hai cây then lên cửa, gác cây roi tre đã lên nước bóng loáng cạnh cửa chuồng, rồi nó bước vào nhà lấy quần áo để ra giếng tắm.
***

Thời gian trôi xuôi như nước. Nhưng thời gian không trôi êm ả như một dòng sông chảy giữa đồng xanh. Thời gian như một con suối trào ra nguồn núi, vượt qua những thác ghềnh biến thiên không thể nào lường. Và như nước, thời gian không bao giờ quay trở lại.
Những ngày về quê thăm ngoại kể trên của thằng Tú là những ngày tươi đẹp không bao giờ còn có lại thêm lần nữa.
Mùa hè năm sau, đất nước thống nhất sau hơn hai mươi năm chia cắt với những niềm vui của người thắng trận và những nỗi đau của người thua cuộc. Thằng Tú kết thúc năm học lớp nhất của nó vào mùa hè năm 1975, chờ học lên lớp sáu giữa rất nhiều đổi thay trong cuộc sống xung quanh, trong chính gia đình nó. Má nó vẫn tiếp tục ngồi bán bún, giá, mì, hủ tiếu ở cái chợ nhỏ Bình Hòa. Ba nó, một viên chức hành chánh nhỏ của chính quyền Sài Gòn, sau mấy ngày học tập được trả tự do, nhưng đã trở thành một con người bất đắc chí, buông xuôi tất cả. Ông bỏ mặc việc chăm lo các con cho người vợ đầu tắt mặt tối suốt ngày để đi tìm quên cùng vài người bạn “tri âm”. Những người đàn ông tự cho mình là kẻ bại trận ngồi với nhau, nhỏ to nhắc lại những ngày “oanh liệt”, chia sẻ tâm tình cho nhau với những ly rượu đế pha cồn, và chỉ trở về nhà khi “đất say đất cũng lăn quay”. Đó là những ngày thằng Tú thấy cuộc đời nó vô cùng khốn khổ. Má nó, do quá mệt mỏi với gánh nặng con cái, chỉ còn biết trút giận lên đầu nó. Nó phải chăm lo cho đàn em, phụ má làm tất cả những gì có thể làm để bảy cái miệng ăn trong nhà có cái nhét vào. Nhiều khi nó muốn bỏ Sài Gòn về ở với Ngoại. Về quê đi chăn trâu cùng thằng bạn kết nghĩa Đào viên năm trước. Về quê đi tát cá, đi bẫy chim. Về quê sống giữa đồng xanh gió lộng, sống với bà ngoại lẻ loi của nó. Nhưng không thể. Dù sao, thằng Tú là một đứa trẻ biết suy nghĩ chính chắn và khôn trước tuổi. Nó vẫn mơ mộng thoát khỏi cảnh sống bế tắc và mệt mỏi của mình, nhưng vẫn cố gắng làm hết sức mình để giúp má nó. Trong nhà, bây giờ nó không còn là một đứa trẻ con, mà là một người đàn ông. Một NGƯỜI ĐÀN ÔNG không thể bỏ mặc gánh nặng cho mẹ của mình, em của mình gánh chịu để tìm kiếm tự do vui thú riêng tư.
Thằng Tú đâu biết rằng dù ở khía cạnh nào đó nó có thể là một người đàn ông nhỏ bé khi biết đón nhận trách nhiệm về mình, thật ra nó vẫn chỉ là một đứa trẻ con nhiều mơ mộng. Nó đâu biết rằng Ngoại nó cũng đang gặp lắm khó khăn, đang có nhiều lo nghĩ. Nó không biết gì hết. Nó chỉ biết mỗi một điều: cố gắng làm những gì có thể làm để giúp cả gia đình nheo nhóc của nó tồn tại giữa vòng xoáy cuộc đời.
Và thời gian vẫn tiếp tục trôi. Như nước.
Một ngày tháng 8/1977, cậu Ba của nó ghé thăm nhà. Ông bảo má nó ráng thu xếp để về thăm Ngoại. Ngoại của nó đang lâm bệnh nặng, không biết có qua khỏi hay chăng. Má nó gửi đứa con nhỏ nhất cho một người bạn thân, rồi dắt díu anh em nó về quê.
***

Mấy mẹ con bước qua cái ngõ rào dâm bụt quanh nhà bà ngoại. Cậu Ba bước đi tập tễnh với chân giả dẫn đầu. Trong nhà ngoài ngõ vắng tanh. Thằng Tú bất giác nhìn ngay tới cái nồi nấu cơm quân dụng để cho trâu uống nước đặt trước chuồng trâu. Cái nồi vẫn xăm xắp nước. Nhưng nước đóng rêu nổi váng. Nó nhìn qua cái chuồng trâu. Chuồng vẫn còn như cũ. Vẫn những hàng cột gỗ lưa thưa. Vẫn những cây cột làm khung cửa chuồng lên nước đen bóng do lưng trâu cọ gãi ngứa lâu ngày. Vẫn cái máng cỏ còn vương vải dăm sợi rơm khô. Vẫn cây rơm nằm nép dưới bóng mát của cụm tre già. Nhưng có một cái gì đó, như là dự cảm, báo cho nó biết mọi thứ không còn như trước nữa. Nó nhìn cậu Ba nó với đôi mắt dò hỏi, và định cất tiếng, thì cậu nó đã hiểu ý và nói trước: “Hai con trâu ngoại bây bán cách đây mấy tháng rồi. Trâu bán được vài ngày, thằng An cũng khăn gói về quê của nó. Cậu về ở với ngoại trước khi nó đi hai bữa.”
“Sao lại bán trâu đi?” Má thằng Tú hỏi, rồi bà nói tiếp ngay, “mà thôi, chuyện trâu bò gì đó nói sau, giờ vào xem má bệnh tình ra sao đã.”
Bà Tư nằm nghiêng co người trên tấm phản giữa nhà. Khi mấy mẹ con thằng Tú ùa vào nhà, bà mở mắt ra, mệt nhọc trở người lại nhìn họ. Má thằng Tú bước tới ngồi xuống phản, nắm lấy tay bà, đôi mắt đỏ hoe.
Cậu Ba ngồi xuống ghế, vấn một điếu thuốc rê, rít một hơi rồi trầm ngâm nhả khói.
Bà Tư bị bệnh khá nặng nên cũng không thể chuyện trò nhiều ngay hôm đó. Nhưng sau khi mấy mẹ con thằng Tú xuống, bà đã có vẻ khá hơn. Có lẽ bà mang tâm bệnh nhiều hơn là đau ốm thật sự. Má thằng Tú ở lại đến hết hôm sau thì dắt mấy đứa em nó về thành phố trước để lo việc buôn bán làm ăn. Thằng Tú được má nó dặn ở lại chăm sóc và theo dõi sức khỏe của bà ngoại vài hôm nữa, nếu thấy ổn thì mới về thành phố.
Dần dà, cậu Ba thằng Tú cũng kể rõ nguyên nhân vụ bán trâu. Ngoại nó đã già, trước giờ chỉ cho người làng mượn trâu cày ruộng, kéo xe để đổi lại công cấy gặt. Sau này có chủ trương vào hợp tác xã nông nghiệp, việc đổi công theo nếp cũ gặp lắm khó khăn. Phần khác, thằng An cũng đã lớn rồi, bà muốn trả nó về với cha mẹ để giúp họ làm ăn. Suy đi tính lại, bà quyết định bán cặp trâu đi. Thằng An khóc ròng mấy bữa, khi chào bà Tư ra đi nó cứ nấn ná mãi không muốn cất chân. Có lẽ nó thương bà hơn cả cha mẹ nó. Có lẽ nó thương bà hơn cả thằng Tú thương ngoại nó.
“Ai mà biết được,” cậu Ba nó nói, “chỉ biết từ hôm bán trâu và thằng An đi rồi, ngoại con ngày càng buồn rầu suy sụp. Cậu phải bỏ cái cửa tiệm đang làm ăn khấm khá để về đây ở với ngoại con. Dần dà rồi cậu sẽ tìm cách khuyên ngoại con ra thị trấn ở với cậu. Chứ ở đây, buồn chịu sao cho thấu.”
Mấy bữa sau, bà Tư khỏe lại. Tú chào bà và xin phép ra về. Khi ra gần tới ngõ, nó ngoái lại nhìn cái chuồng trâu trống rỗng. Con Pháo, con Xe với nó rất thân quen, nó đã biết chúng từ lúc nó vừa chập chững biết đi, khi được má nó dẫn về thăm Ngoại. Thằng An với nó cũng rất thân tình. Nhưng nếu không còn hai con trâu, không gặp thằng An nữa, hẳn nó cũng không quá buồn đến vậy. Buồn đến mức lâm bệnh như Ngoại. Nhưng, có thật vậy không? Có thật là nó cảm thấy đúng thế không? Vì khi quay lưng cất bước, đôi mắt nó đã nhòa đi dưới hai hàng nước mắt.
Sài Gòn, tháng 6/2008

Địa Chỉ


Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2012

Một câu chuyện vô lý




Sự vô lý và khó hiểu, nói một cách văn hoa cường điệu hơn là “bất khả tư nghị” của câu chuyện này bắt đầu từ một buổi tiệc gặp gỡ giữa những người bạn cũ với nhau, hoặc cũng có thể bắt đầu từ một thời điểm xa hơn, xin các bạn đọc tự kết luận lấy sau khi đọc. Có một điều là nó thật sự lạ lùng. Anh bạn đã kể lại cho tôi câu chuyện này còn cho là nó thậm vô lý và kỳ cục. Nghe xong, tôi cũng đồng ý với anh ấy.


***

Bàn tiệc có năm người. Đôi vợ chồng Hương, Thiện từ Mỹ về thăm quê. Hằng, giảng viên đại học ở Đà Lạt. Tuấn, ông chủ một tiệm tạp hóa nho nhỏ ở Long Xuyên. Và tôi, một gã đàn ông bốn mươi hai tuổi chưa vợ lông bông.
Hương và Thiện đã mất mấy ngày cố gắng tìm kiếm bắt liên lạc để có cuộc hội ngộ hôm đó. Chúng tôi vừa là bạn hàng xóm, vừa là bạn học từ thời còn cởi truồng tắm mưa cho đến lúc học hết lớp mười hai. Rồi bỗng dưng tứ tán mỗi đưá một phương, hơn hai mươi năm rồi mới có dịp gặp nhau tương đối đông đủ như thế.
Thiện kể:
- Hương qua đó được ba năm thì mình qua, nhưng ở khác tiểu bang. Hơn hai năm sau, qua một số bạn bè mới biết tin, liên lạc được với nhau. Tụi mình cưới nhau năm 1989, có một con gái 12 tuổi và một con trai 10 tuổi. Mình gởi hai đứa cho ông bà nội chứ không dẫn chúng về. Tụi nhỏ sinh ra ở Mỹ bây giờ thích nói tiếng Mỹ với nhau hơn tiếng Việt. Ngay cả nói chuyện với tụi mình chúng cũng chêm nửa nạc nửa mỡ nghe muốn nổi điên. Chuyện tụi mình nói tóm là vậy. Bây giờ Hằng, Tuấn và Bình kể xem chuyện gia đình sinh sống thế nào…
Tôi xin phép được tóm tắt câu chuyện của từng người: Hằng học xong Đại học Sư phạm, ra trường về Long Khánh dạy mấy năm, sau đó quen với một giảng viên đại học ở Đà Lạt, kết hôn và chuyển lên đó sống, đã có ba con. Tuấn học trung cấp cơ khí, sau đó về làm với một ông cậu có xưởng cơ khí ở Long Xuyên, gặp và cưới một nàng thôn nữ, rồi bỏ nghề cơ khí, mở tiệm bán hàng, sống cũng tạm ổn. Tôi đi nghĩa vụ quân sự về, trôi nổi một thời gian, sau đó học sư phạm nhưng ra trường cũng bỏ nghề, giờ viết lách lăng nhăng kiếm sống.
Cuộc chuyện trò kéo dài hơn ba tiếng đồng hồ, sôi nổi, hào hứng, ai cũng tranh nhau nói, tranh nhau hỏi. Quá nhiều kỷ niệm, quá nhiều hồi ức. Và cả những điều mới mẻ đã xảy ra trong cuộc sống của mỗi đưá sau hơn hai mươi năm xa cách. Nhưng rồi không khí cũng chùng xuống, mỗi người dõi theo những dòng suy nghĩ riêng tư. Đột ngột Hương nhìn tôi hỏi:
- Tâm bây giờ ra sao?
Tôi nhìn Hương, rồi nhìn lướt qua tất cả những gương mặt thân yêu cũ. Thời gian khắc nghiệt đã in dấu lên tất cả. Thiện và Hương tuy có phần trắng trẻo, hồng hào những cũng đã thay đổi, già đi. Hằng, cô hoa khôi trung học ngày nào, giờ đã trở thành một phụ nữ trung niên héo hắt. Tuấn thì cũng giống tôi, tóc đã chớm nhiều sợi bạc, mặt xếp đầy những nếp nhăn của một thời gian khổ. Chỉ có Tâm là còn trẻ mãi. Nó đã chết khi chưa đầy hai mươi tuổi.
- Tâm chết lâu rồi Hương à. Nó ở cùng tiểu đội với mình cho đến lúc hy sinh.
Im lặng. Những cốc rượu vang trên bàn vừa được rót đầy. Tôi dõi theo những tia sáng phản chiếu trong mấy cốc rượu. Chúng đi theo những đường di động phức tạp nào đó trong cái chất lỏng màu đỏ sóng sánh để rồi cuối cùng hắt lên gương mặt của các bạn tôi, tạo thành những vệt sẫm lạ lùng, trông như những vệt máu khô. Từ đôi mắt sâu buồn của Hương, những giọt nước mắt rưng rưng trào khỏi khóe rồi bắt đầu lăn xuống hai bên gò má, tạo thành hai dòng chảy ngoằn ngoèo, long lanh một màu đỏ nhòa nhòa.
Hồi ấy Tâm và Hương yêu nhau. Yêu ghê lắm, nhưng rất e dè kín đáo và trong sáng, không như cái cách yêu phô bày trơ tráo đậm màu xác thịt của giới trẻ ngày nay. Hồi ấy, Thiện cũng yêu Hương, đơn phương, câm lặng. Nhưng tất cả những người ngồi ở đây đều biết rõ. Vì tất cả đều quá thân thiết và gần gũi nhau trong những tháng ngày đó. Những trò chơi u, chơi đánh chỏng, tạt lon, trốn tìm… thời cấp một cấp hai. Rồi lên cấp ba, những trò chơi hồn nhiên ít dần đi, giữa mấy đưá con trai và con gái bắt đầu có những cảm xúc lạ lùng khi đối diện với nhau. Chợt thấy người bạn khác phái trở nên xa lạ, bí ẩn nhưng có một sức hút mãnh liệt làm tim đập mạnh và mặt đỏ bừng khi vô tình chạm phải thân thể của nhau. Những buổi chiều tan học, mấy đứa tôi cùng đi chầm chậm dọc theo con đường nhỏ có những hàng phượng vỹ, trò chuyện lan man về một bài toán khó, một đoạn văn hay, một bộ phim xúc động…Những bài thơ câu chữ vụng về nhưng chân thật gửi tặng cho nhau. Tình yêu giữa Tâm và Hương nảy mầm từ những điều như vậy. Khi tôi và Tâm còn ở quân trường, có lần Hương và vài người bạn đã lên thăm. Tâm kể với tôi hai đưá đã trao tặng cho nhau nụ hôn đầu ở một góc đồi râm mát. Một mối tình học trò thơ mộng và trong sáng, nhưng thật sự chẳng có gì sâu đậm. Tôi cũng từng trải qua gần một chục mối tình học trò như vậy. Tất cả đều chỉ mang đến chút buồn vui dịu nhẹ mơ hồ khi nhớ lại. Chỉ vậy mà thôi. Hồi nhỏ, tôi cũng khá thích Hằng. Nhưng lên cấp ba, tôi thấy Hằng nói nhiều quá, bình thường quen thuộc quá. Tôi chỉ thích những cô gái ít nói và có một chút gì đó hơi kiêu kỳ xa cách. Nó tạo nên sự hấp dẫn mãnh liệt ở đối tượng, và cũng tạo cho tôi một cảm giác an toàn. Hình như cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa bao giờ biết yêu thật sự. Tất cả đều dừng lại ở mức độ một tình yêu trẻ con thơ mộng và nhút nhát. Cả Tâm cũng vậy. Cả Hương cũng vậy. Một tình yêu như thế không thể làm cho người ta đau khổ, nó chỉ nâng đỡ tâm hồn, gợi nhớ lại một thời tuổi trẻ ngây ngô. Và tất cả đều đã qua rồi. Qua rất lâu rồi. Giờ Tâm đã chết, Hương đã là của Thiện. Một kết thúc tương đối tốt, cho Hương, và cho Thiện.
Tôi lên tiếng, phá vỡ sự im lặng không nên có.
- Hương đừng buồn nữa. Kỷ niệm ngày xưa đẹp lắm, nhưng thực tế bây giờ mới quan trọng. Lâu nay hai vợ chồng bạn vẫn hạnh phúc với nhau phải không? Mình tin là vậy.
Thiện cầm cốc rượu lên nốc cạn, rồi nói khẽ:
- Cô ấy vẫn nhớ Tâm … cho đến bây giờ, các bạn à. Cô ấy chấp nhận đến với mình không phải vì tình yêu mà vì nhiều lý do khác. Nhưng mình hiểu Hương, tôn trọng Hương và vẫn yêu Hương… Bình nè, có cái mình không hiểu là hồi ấy, khi hai ông qua Campuchia, Hương đã gửi rất nhiều thư cho Tâm mà chẳng có một tin gì hồi đáp. Hồi đó, mình cũng hay qua Hương hỏi thăm nên biết chuyện này. Vì sao vậy? Ông có biết không? - Thiện hỏi tôi.
Tôi biết. Và tôi đã kể cho các bạn tôi nghe. Tuy nhiên, tôi không nói đến chi tiết quan trọng nhất. Tâm là một đưá trẻ mồ côi cha mẹ. Ba má nó mất trong một tai nạn giao thông. Bà ngoại nó nuôi nó từ nhỏ đến lớn. Hồi còn đi học, bạn bè ai cũng thương quý nó, vì nó nghèo mà học giỏi, lại rất hiền lành dễ mến. Tâm và tôi về cùng một tiểu đội trinh sát. Tâm chiến đấu gan lì, dũng cảm lắm. Tôi với nó đã là bạn thân từ nhỏ, sang đó lại càng thương nhau hơn cả anh em ruột. Hai đưá tôi qua K được khoảng hai tháng thì bà ngoại nó mất. Sau đó, căn nhà của bà bị một ông cậu bán đi. Ông cậu nó vốn là tay cờ bạc ăn chơi. Sau khi bán nhà ăn xài hết ông cũng bỏ đi đâu mất tích. Tâm trở thành kẻ không nhà cửa, không người thân. Nó quyết định đăng ký sĩ quan, chọn theo đời binh nghiệp. Trong một trận đánh không bao lâu sau đó, tôi và nó đều bị thương. Có điều tôi thì không sao, còn vết thương của Tâm biến nó thành một người không còn khả năng làm cha nữa.
- …Nhiều đêm Tâm nằm tâm sự với mình. Nó nói nó không nhà cửa, thân thích. Giờ lại là lính chiến, biết sống chết ngày nào. Nếu còn nguyên lành xuất ngũ về thì cuộc sống cũng rất khó khăn, làm sao lo cho Hương được. Nó nhận ra nó khó mang đến cho Hương hạnh phúc. Ngoài ra, Thiện à, Tâm biết ông rất yêu Hương. Ông lại có điều kiện chăm sóc cho Hương, có thể vượt biên như cô ấy. Vì thế, nó quyết định cắt đứt, không viết thư cho Hương nữa. Để Hương giận và quên nó, để Hương dễ dàng thuận lợi sang Mỹ với gia đình.
Hương nhìn tôi đau đáu. Đôi mắt to đen trong vắt ngày xưa Tâm thường hay ví là hai hồ nước mùa thu và xin tình nguyện làm người chết đuối trong đó giờ đã hơi mờ đục. Từ đôi mắt ấy niềm đau chôn giấu suốt hai mươi năm nay thoát ra thành những giọt rưng rưng.
- Tâm suy nghĩ thật kỳ. Nếu lúc đó, Tâm gửi thư về thì Hương nhất định không theo gia đình vượt biên qua Mỹ. Hương sẽ ở lại chờ Tâm. Nghèo khó thế nào Hương cũng chịu … Trong thư, Hương cũng có ghi rõ vậy mà … Bình có giữ được kỷ vật gì của Tâm không?
Tôi gật đầu. Tâm hy sinh trong trận cuối rất đột ngột. Không kịp có một lời trăng trối. Nhưng bình thường trò chuyện với nhau, nó hay nói giỡn rằng nếu nó chết trước thì tôi sẽ là người thừa kế di sản của nó, còn nếu tôi chết trước thì nó là người thừa kế của tôi. Di sản của nó là một cuốn sổ ghi chép linh tinh đủ thứ, trong đó có dán tấm ảnh của Hương chụp trong một lần lớp tổ chức đi cắm trại ở núi Bửu Long, Biên Hòa, một bọc nylon đựng tất cả thư từ của Hương, một cái bình toong sắt, một chiếc võng dù. Võng dù và bình toong tôi đã cho một đứa em trong trung đội xài. Tôi cũng chưa chắc mình có còn sống về tới nhà hay không thì giữ mấy thứ đó làm gì.
Bao nhiêu năm rồi không biết, tôi ít khi ngó lại những kỷ vật của một thời chinh chiến. Cuộc sống ngày nay có quá nhiều bận rộn, toan tính, lo âu cho tất cả mọi người. Những dĩ vãng, ký ức dường như chìm khuất, mất tăm trong vòng xoáy sôi sục của những gì đang xảy ra trước mắt hoặc sắp sửa xảy ra. Tuy nhiên, thỉnh thoảng trong những đêm say chưa tới mức, tôi nằm lăn lộn, thao thức trên căn gác lạnh giá và nhớ tới những chuyện xa xưa. Nhớ những anh em đồng đội, đã chết hay còn sống. Nhớ thời thơ ấu hồn nhiên, những buổi tắm mưa, tắm sông, những trò chơi tuổi nhỏ. Sống lại một lần nữa những quãng thời gian đẹp đẽ và trong sáng trong khoảnh khắc. Rồi chợt giật mình quay trở về thực tại. Nghe tiếng thằn lằn tắc lưỡi trên tường. Nghe gió đìu hiu thổi qua song cửa.
- Mình còn giữ một cuốn sổ của Tâm, sẽ giao lại cho Hương. Trong đó còn có một tấm ảnh của Hương hồi lớp 11 nữa. Và cả những lá thư Hương gửi sang, Tâm vẫn giữ gìn rất cẩn thận cho tới lúc hy sinh. Các bạn à, ngày mai tụi mình đến nghĩa trang liệt sĩ viếng mộ Tâm đi. Nó hy sinh tháng mười một. Bây giờ cũng gần tới ngày giỗ của nó rồi.
Chúng tôi trao đổi thêm vài câu nữa rồi chia tay nhau.
****
Vợ chồng Thiện về Mỹ được khoảng hơn một tháng có gửi email cho tôi. Rồi sau đó bặt tăm. Gần một năm sau, Thiện lại viết cho tôi, báo rằng hai vợ chồng đã ly hôn. Hương đã vào tu trong một nữ tu viện dòng kín ở Colorado từ mấy tháng rồi. Trong thư Thiện kể rằng sau khi từ Việt Nam quay về Mỹ, Hương ngày càng ít nói, ít ăn, ít ngủ, hay thẫn thờ lo ra, và không muốn tiếp tục sinh hoạt chồng vợ nữa. Được một thời gian thì đòi ly hôn để đi tu. Thiện bảo đã cố gắng năn nỉ, thuyết phục Hương mãi mà không được. Cả hai đưá con cứ khóc lóc ỉ ôi cũng chẳng làm Hương xiêu lòng. Cuối cùng đành phải chấp nhận làm theo ý cô ấy. Thiện than thở và hỏi tôi có hiểu được lý do sự việc không. Tôi suy nghĩ rất nhiều, nhưng cuối cùng cũng không hiểu đâu vào đâu cả. Xét theo lý lẽ thường tình, nếu Hương có tâm hồn mộ đạo, muốn đi tu thì đã tu từ thời thiếu nữ. Tất cả phải xuất phát từ buổi gặp hôm đó, vì cuốn sổ của Tâm. Nhưng cho dù đúng vậy thì sao? Cũng không có một lô-gíc nào trong mối dây liên hệ. Vì một mối tình học trò với một người đã chết từ hơn hai mươi năm trước? Chẳng lẽ nào! … Vì Thiện thay đổi thái độ, ghen tuông hằn học làm Hương khổ sở chăng? … Cũng không thể có. Thiện là một người đàn ông rộng lượng và hiểu biết. Vả lại, có ai đi ghen với một cuốn sổ bao giờ. Cuốn sổ của Tâm tôi đã đọc nhiều lần, cũng không có gì đặc biệt. Nó ghi chép linh tinh các thứ, về những trận đánh, về đồng đội, về nỗi nhớ Hương…Nhưng tất cả đều bình thường như bất kỳ một cuốn sổ nào của những người lính chiến. Tâm có khiếu về toán lý chứ không có khiếu văn chương, câu chữ của nó đọc nhiều lúc thấy tức cười. Những gì ghi chép trong đó không thể tác động đến Hương một cách mãnh liệt được. Tôi không biết có một chuyên gia tâm lý nào có thể lý giải được quyết định lạ kỳ đó hay không, dựa trên những tình tiết mà tôi biết. Rốt cuộc, có lẽ chính tôi là người có lỗi vì đã giao lại cuốn sổ ấy cho Hương. Tôi suy tư, dằn vặt ít lâu rồi cũng quên khuấy đi mất. Cuộc sống quả còn nhiều lạ lùng bí ẩn. Tâm lý con người quả phức tạp khôn lường. Trước đây tôi cứ tưởng là mình cũng đã sống nhiều, hiểu nhiều, giao tiếp gặp gỡ với đủ loại người, biết gần hết mọi sự đời. Sau chuyện này, tôi nhận ra rằng có những chuyến đi, những cuộc gặp gỡ, những sự kiện nào đó, tuy rất bình thường, nhưng nếu xảy ra sẽ có thể đẩy một số phận con người chuyển sang một bước ngoặt lớn lao. Dù sao, tôi nghĩ, cuộc sống vẫn như một dòng chảy không ngừng xuôi về phiá trước. Những gì đã rơi lại sau lưng chỉ còn là những hồi ức thỉnh thoảng quay về, gợi chút buồn thương hay nhớ tiếc…
*****
Tái bút của người thuật lại: Câu chuyện này tưởng chừng đã kết thúc ở bên trên hóa ra vẫn còn chút vĩ thanh; tưởng chừng vô lý lại hóa ra không vô lý, hoặc cũng vô lý nhưng theo một chiều kích khác. Lần gặp tôi gần đây nhất, Bình, anh bạn đã kể lại câu chuyện trên, đưa cho tôi đọc một lá email mà anh đã in ra. Tôi nghĩ tốt nhất là trích lại nguyên văn một phần quan trọng của lá thư này để các bạn cùng đọc và kết luận. (Tôi đã được sự đồng ý của tác giả lá thư, với điều kiện phải giấu tên thật của các nhân vật.)

****
Colorado, ngày….
…Anh Bình thân mến,
Chuyện ly hôn của Hương và Thiện chắc anh đã biết rồi. Hôm qua, ảnh đưa hai cháu vào tu viện thăm Hương và có nhắc tới anh. Có một chuyện mà từ bấy lâu nay Hương vẫn giấu Thiện. Vì không muốn làm ảnh buồn, thất vọng, khinh rẻ coi thường Hương hay vì nỗi mặc cảm, nhục nhã của chính mình Hương cũng không hiểu nữa. Ngay cả khi Hương đề nghị ly hôn và muốn đi tu, Hương cũng không giải thích gì với ảnh cả. Nhưng sau những ngày cố gắng tu tập trong tu viện, lòng Hương vẫn cảm thấy áy náy không yên. Và Hương hiểu rằng chỉ có nói hết sự thật thì may ra Hương mới có thể tìm thấy chút bình an. Hôm qua, Hương và Thiện đã nói chuyện riêng rất lâu, và Hương đã kể lại toàn bộ sự thật cho ảnh nghe.
Hương viết bức mail này gửi anh, cũng là nói về sự thật đó, sau khi đọc xong mong anh hãy đem đọc nó trước mộ Tâm giùm Hương, như một lời thú nhận, để Hương có thể sống nốt quãng đời còn lại với chút bình an thanh thản. Lỗi của Hương với người còn sống là anh Thiện thì đành vậy, vì không còn cách nào giải quyết tốt hơn.
Anh Bình thân mến,
Trong thời gian còn lênh đênh ở hải phận quốc tế, chưa được tàu nào đón, chiếc tàu chở gia đình Hương đã bị cướp biển tấn công. Hương và một số phụ nữ khác đã bị hãm hiếp dã man. Có người không chịu nổi uất ức đã nhảy xuống biển tự tử sau đó. Lúc ấy, Hương cũng muốn chết cho rồi, nhưng thương cho ba mẹ bắt đầu già yếu và thằng em trai còn nhỏ dại, nên phải bấm bụng chịu đựng nỗi nhục nhã để tiếp tục sống. Gia đình Hương phải ở một trại tập trung ở Phi Luật Tân một thời gian rồi mới được đưa sang Mỹ. Do thời gian đó phải đối đầu với nhiều khó khăn, thử thách, nỗi đau đớn nhục nhã của Hương đã lặng chìm đi…
Khi Thiện dò hỏi được địa chỉ nhà Hương và sang thăm, Hương đã quyết lòng tránh mặt ảnh. Dạo đó, Hương đã nghĩ sẽ cố học xong đại học, ra trường đi làm vài năm nữa, dành dụm chút ít tiền đủ cho thằng em học và ba mẹ sống an nhàn rồi Hương sẽ xin vào tu viện, lánh xa sự đời bon chen ô trọc. Nhưng tránh mãi rồi cũng phải tiếp Thiện, rồi sau đó gặp gỡ ảnh thường xuyên. Hai gia đình từng là láng giềng thân thiết. Ba mẹ Hương từ lâu cũng rất mến ảnh. Thêm nữa là ảnh cứ một lòng đeo đuổi, nên cuối cùng Hương đành phải chấp nhận dù lòng không muốn. Thật sự, do cuộc sống bên này rất bận rộn, Hương cũng chẳng còn thời gian để nghĩ, để nhớ nhiều về các bạn bè trong nước, ngay cả với Tâm.
Sau hôm gặp lại anh và các bạn, ra thăm mộ Tâm, rồi trở về Mỹ với kỷ vật của Tâm, cả một dĩ vãng như sống dậy trong lòng Hương. Đêm nào Hương cũng nằm mơ thấy Tâm của thời học trò ngày cũ. Rồi mơ thấy lại những cảnh hãi hùng trên biển. Những tình cảm xa xưa, những cảm giác kinh khủng đớn đau tưởng đã quên hẳn bỗng quay trở lại. Sự việc cứ tiếp diễn như thế suốt mấy tháng liền, Hương sợ cả việc đi ngủ, và cũng bắt đầu cảm thấy có lỗi với Thiện. Hương đã đi nhờ bác sĩ tâm lý tư vấn, làm đủ các cách để cố gắng vượt qua nỗi ám ảnh đó. Để tiếp tục sống một đời sống bình thường, vì sau khi kết hôn, Hương đã bỏ ý định đi tu. Sau đó lại thêm hai cháu ra đời. Hương không muốn chúng phải sống xa mẹ. Mà không được, anh Bình ơi! …
Cuối cùng, như anh đã biết. Hương phải nương tựa vào niềm hy vọng cứu chuộc cuối cùng là tôn giáo. Tu viện tham gia rất nhiều hoạt động xã hội, từ thiện, thời gian bận bịu và việc gặp gỡ, tiếp xúc với những con người đau khổ, những hoàn cảnh khốn cùng cũng giúp Hương vơi đi rất nhiều những nỗi niềm riêng. Hương chỉ cầu mong cho Thiện và các con Hương vẫn sống bình an hạnh phúc. Cầu mong cho ảnh sẽ sớm gặp một ai đó mang tới được cho ảnh cảm giác yêu thương chứ biết sao hơn….
Kính chúc hai bác và anh Bình mạnh khoẻ, bình an. Thân mến.
Bạn cũ. Hương.
10/2005

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Truyện cổ trong đêm Giáng sinh




(Tranh của Robert Schoeller)
 
 
- Cô biết không, đôi khi tôi thấy niềm tin của mình nó chao đảo như một con thuyền trên biển giữa cơn bão lớn.... 
- ............................

- ...Nó mòn mỏi như một chiếc đồng hồ chạy pin sắp hết nguồn năng lượng, nó dẹp lép ỉu xìu như một chiếc bánh giò cháo quảy bị thiu... 
- Tôi đang bận, anh à!
-Còn tôi thì đang buồn và đang có nhiều thắc mắc! 
- .......................

- Người ở trên đời không ai là không đặt niềm tin vào một cái gì đó thiêng liêng phải không....? Như cô...cô đặt niềm tin vào...?

- ...........................

- Cô làm ơn trả lời câu này thôi, được không?!

- Lòng tốt của con người!

- Trời! Trừu tượng và hông có gì bảo đảm hết trơn á!

- Đức Chúa và các thánh thần của anh không trừu tượng chắc?!
- Chúa Jesus và các thánh là có thật, cô đừng quên thế nhé, tôi chỉ tin vào những vị ấy thôi, không trừu tượng như cái lòng tốt con người của cô đâu!

- Vậy anh tin họ ở chỗ nào ?

- Ơ...thì họ là những người cao cả, có tình yêu thương vị tha, to lớn... vân vân....
- Anh thấy không, nói lòng vòng, rốt cuộc những tư tưởng lớn đã gặp nhau rồi đó. Tôi tin vào lòng tốt của con người, còn anh, anh tin vào những con người tốt, có khác nhau mấy, phải không?

- Ơ...Phải! Cô thì lúc nào cũng khéo ăn khéo nói...

Lần nào gặp hắn, hắn cũng tìm cách gợi chuyện, và lần nào tôi cũng mắc vào cái bẫy giăng sờ sờ lộ thiên của hắn. Dù sao, tôi phải công nhận là hắn quá dai, quá chai lì và quá dễ ghét (!), đến nổi trước sau gì hắn cũng thành công trong việc chọc cho tôi phải nói.

Nói chuyện với hắn nghĩa là nói những điều vớ vẩn, linh tinh. Những chuyện trên trời dưới đất, kéo dài từ thời con người còn ăn lông ở lỗ cho đến tương lai xa tít tắp, trải dài từ Bắc cực tới Nam cực và thỉnh thoảng băng qua tầng ô-zôn để vươn tới những vì sao.

Hôm nay, hắn nói về niềm tin.

Tôi ngẩng lên nhìn hắn, mặt nghiêm lại, báo hiệu rằng câu chuyện tốt hơn hết nên kết thúc ở đây. Nhưng hắn đâu có phải là kẻ dễ chịu thua. Hắn đẩy cái gọng của đôi kính 10 đi-ốp lên, đôi mắt đen hơi khờ khạo vì cận thị nhìn tôi đăm đăm.

- Cô có thấy lòng tin của mình đôi khi hụt hẩng không?

- Tôi còn nhiều việc phải làm lắm..Hẹn anh khi khác nhé. - Giọng tôi lạnh lùng, dứt khoát.

Tôi cúi xuống tiếp tục dán mắt vào cuốn sách. Ngày mai thi. Ngày mốt thi. Ngày kia thi. Ba ngày với 6 môn học kinh khủng và đáng ghét nhất trong chương trình học năm thứ ba! Đầu óc tôi mấy hôm nay đã rối tung lên vì bao điều phải nhớ, bao thứ phải suy tư nghiền ngẫm. Vậy mà hắn còn đi bàn chuyện niềm tin với tôi lúc này!

- Cô à, Giáng sinh này, tôi mời cô đi Lễ Nửa đêm cùng tôi nhé. Tôi sẽ nói với cô một chuyện. Quan trọng lắm.

Hắn vớt vát một câu, ngần ngừ nhìn tôi trong vài giây nữa rồi bỏ đi.

Nhà chị họ tôi nằm ở quãng giữa con đường đi vào nhà thờ Fatima. Từ khi nhập học, tôi lên ở trọ nhà chị vì khó mà kiếm được một suất trong khu ký túc. Chị bán những thứ tranh tượng thánh, hoa và nhiều thứ linh tinh khác tại nhà, và cũng có nhiều người đến mua hàng. Vào những ngày chủ nhật và khi rảnh rỗi tôi hay giúp chị coi sóc, bán hàng. Và tôi đã gặp hắn - cái gã lẩn thẩn ấy - khi hắn đến mua một xâu tràng hạt gỗ. Hắn bảo là mua tặng cho một bà cô nào đó, và hỏi tôi đủ chuyện về các món hàng bày bán. Ngay hôm đó, tôi đã nhận ra hắn là một gã nhiều chuyện, bất bình thường. Trông hắn cũng không đến nỗi nào. Dáng cao ráo, thư sinh, khuôn mặt có vẻ trí thức thông minh với đôi kính khá dầy, và cũng khá đẹp trai (nên công bình với bất kỳ ai khi phán xét!) Phải chi hắn đừng quá lắm lời như thế, có lẽ tôi cũng sẽ có đôi chút cảm tình với hắn!

Tôi là một cô bé khá xinh và được nhiều chàng trai chú ý. Tuy nhiên, anh chàng nào có may mắn tiếp cận với tôi vài lần đều lặng lẽ rút lui. Có lẽ tính tôi nghiêm nghị quá chăng? Có lẽ tôi không biết nói những lời vuốt ve tự ái đàn ông của họ chăng? Hay vì tôi luôn nhìn thẳng vào mắt họ với chút chế giễu và coi thường như bà chị nhìn thằng em khờ khạo? Tôi hơi kiêu hãnh, không phải vì biết mình xinh đẹp, mà vì từ nhỏ trong tôi đã hình thành một tính cách chỉ tôn trọng kính nể những ai chân thành, nhân hậu. Bọn con trai trong trường ấy à?! Toàn một lũ mê gái đẹp! (Ít nhất là như thế đối với những tay đã lân la tán tỉnh tôi, tôi không dám kết luận như thế đối với tất cả mọi đàn ông.) 

Chưa ai làm cho tôi thích, chưa ai tôi thấy có cảm tình. Và dĩ nhiên, chưa ai được cái hân hạnh mời tôi đi dự một cuộc lễ lộc, tiệc tùng gì đó, trừ những buổi đi uống nước ở cái quán gần trường, với cả một đám bạn gái của tôi. Vậy mà hắn, chính cái gã lù khù ấy, lại đưa ra một lời mời lạ lùng, bằng một kiểu cách lạ lùng như vậy với tôi. Không phải hắn mời! Hắn làm như chắc mẫm là tôi sẽ phải nhận lời. Làm như thể tôi đã là người yêu của hắn. Đừng hòng nhé!

Tôi lẩm bẩm, và buộc đầu óc mình quay trở về những cuốn sách kinh hoàng.
***

Những buổi thi rồi cũng qua, tôi thở phào nhẹ nhõm.

Thành phố vào mùa Giáng sinh thật đông vui và nhộn nhịp. Mấy đứa bạn đến rủ tôi đi vòng vòng dạo phố, xem người ta mua bán chơi, cho vui. Sinh viên mà, tiền đâu mua sắm.

Không khí se se mát dịu. Thành phố không có mùa đông, nhưng thời tiết cuối năm cũng có một cái gì đó thật lạ lùng, làm lòng người nôn nao phấn khích. Là vì gió, hay vì nắng, hay vì nhiệt độ đã tụt xuống trên chiếc nhiệt kế? Chỉ biết gió hình như mát hơn, nắng trong hơn và tâm hồn thấy hơi bâng khuâng man mác.

Các cửa hàng đầy ắp những thứ đồ chơi cho trẻ nhỏ đủ màu đủ sắc. Những chiếc chuông nhỏ, những ngôi sao xanh tím lấp lánh, những quả cầu tròn loang loáng và thật nhiều những tượng nhỏ xinh xinh. Bọn tôi ngẩn người ra nhìn ngắm, chợt thấy nhơ nhớ và luyến tiếc một cái gì đó đã qua rồi. Hình như là tuổi thơ, hồn nhiên và nhiều mơ mộng chợt len lén quay trở về cùng với những thứ xinh xắn nhỏ nhắn kia. Chúng nhắc nhớ những câu chuyện cổ ngọt ngào, những điều kỳ diệu chỉ tồn tại trong giấc mơ tuổi nhỏ.

Ngắm nghía, lang thang chán, bọn tôi quay về nhà bà chị. Hôm nay, tôi sẽ nấu một nồi bánh canh để đãi mấy đứa tụi nó.

Mấy đứa tôi tíu tít trong gian bếp nhỏ của bà chị. Nhỏ Thúy chợt mỉm một nụ cười thật lạ nhìn tôi.

- Quyên à, hổm rày chàng cận có tới thăm mày không?

- Ừ nhỉ, anh chàng dễ thương chứ Quyên - Nhỏ Hạnh bình luận- Mà mày nói hắn ta talkative là sao, chứ mấy lần gặp bọn tao, hắn bẽn lẽn lí nhí như con gái, có nhiều chuyện gì đâu.

- Ai mà biết. Nhưng gặp mình tao, hắn nói tùm lum hà, nghe phát mệt, trả lời phát ốm - Tôi đáp - Cũng lạ nhỉ.

Lạ thật! Thỉnh thoảng, tụi nhỏ Thúy, nhỏ Hạnh thường đến chơi vào những ngày Chủ nhật, và hay đụng độ với hắn. Tụi nó bu lại, mỗi đứa một câu trêu ghẹo. Còn anh chàng thì cứ đỏ bừng cả mặt mũi, chân tay lóng ngóng, nở những nụ cười gượng gạo mếu xệch trông thấy mà thương. Phải chi khi gặp tôi một mình hắn cũng ít lời và bẽn lẽn như thế nhỉ!

- Hình như hắn thích mày lắm đó Quyên à. Chứ không, sao lại tới hoài, mua gì thì mua phứt một lần. Gì mà mỗi lần tới mua một món chẳng ra cái quái chi, lại rề rà nói chuyện dông dài. Là hắn kiếm cớ để tới gặp mày thôi...

- Ừ đại cho tụi tao một bữa chè đi Quyên há.

Hai đứa bá vai tôi cười rúc rích. Tôi bậm môi, làm bộ bực mình.

- Thôi, dẹp cái gã đó sang một bên đi. Tao không ưa hắn.

Lòng tôi chợt gợn lên một câu hỏi. Hắn nói cái chi quan trọng? Và tại sao lại là dự lễ Nửa đêm? Sao không là một cái gì khác nhỉ? Hay hắn chỉ muốn làm ra vẻ bí ẩn cho tôi nhức đầu nhức óc đoán mò chơi?
***

Còn hơn tuần nữa là Noel. Tôi đang lúi húi dọn dẹp mấy thứ hàng mà người khách trước đã bày bừa bãi ra khi chọn lựa thì hắn tới. Hắn mỉm cười với tôi. Còn tôi, tôi không thèm tặng cho hắn dù chỉ là một phần tư của nụ cười!

- Chào cô. Cô khoẻ chứ?

- Chào anh, tôi khoẻ, cám ơn anh - Tôi đáp, lạnh lùng.

- Cô à, hôm nay tôi không mua gì hết, tôi xin cô vài phút được không?

Hắn nhìn tôi, đôi mắt đen lấp lánh sau lớp kính. Sao hôm nay hắn có vẻ trịnh trọng khác thường vậy nhỉ. Mọi hôm, nói chuyện với tôi, hắn luôn luôn có cái kiểu hơi bông lơn têu tếu, cố tình chọc ghẹo tôi mà.

Hắn móc trong túi áo ra một phong thư, giơ lên trước mặt tôi.

- Tôi xin gửi cô lá thư này.

 Tôi mở to mắt nhìn hắn, ngạc nhiên. Vụ này quá bất ngờ để tôi có thể nói gì. Nhưng rồi tôi lấy lại bình tĩnh ngay. Tôi phá ra cười.

- Sao cô cười vậy?

- ...... Này anh!

- Vâng! Sao ạ?

- Anh biết tôi tên gì chứ?

- Chưa, cô à!

- Anh có tự giới thiệu tên cho tôi rồi chứ?

- Cũng chưa, cô à!

- Anh nói chuyện với tôi bao nhiêu lần rồi nhỉ?

- Khoảng bảy tám lần gì đó, vào những ngày chủ nhật.

- Thế anh muốn gì, khi gửi thư cho một cô gái không biết anh là ai, và anh cũng không biết cô ấy là ai? Một lá thư tỏ tình, tán tỉnh, phải không?

Tôi nheo mắt nhìn hắn, lòng reo lên đắc thắng. Hừ, phải cho hắn biết tay tôi một lần. Tôi giữ kiên nhẫn, lịch sự với hắn đến hôm nay cũng đủ lắm rồi.

- Cô à, cô hiểu lầm rồi ...

- ..............?

- Đây không phải là một lá thư tình đâu. Rất mong cô vui lòng đọc. Đọc rồi cô sẽ hiểu mà!

Hắn lại làm cho tôi bất ngờ. Không là thư tình! Vậy là cái quái quỷ gì khác nữa?

- Cô hứa là sẽ đọc nhé, đừng vội xé bỏ hay vứt vào thùng rác trước khi đọc nhé, xin cô!

Mặt hắn thật nghiêm trang. Vẻ nài nỉ xuống nước toát ra từ ánh mắt, từ giọng nói nhỏ nhẹ làm tôi cảm thấy tò mò.

- Thôi được, tôi sẽ đọc!

- Cám ơn cô! Chào cô nhé - Hắn đặt phong thư vào tay tôi.

Hắn bỗng nở một nụ cười rạng rỡ. Ánh mặt trời lấp loáng đâu đó trong đôi mắt đen khờ. Rồi hắn quay lưng bước đi, bỏ tôi ngồi thừ người ra vì những cảm xúc không tên.
***


Ngày.... tháng... năm ....

Cô thân mến,

Tôi chắc là cô sẽ rất ngạc nhiên, nhưng rồi từ từ tôi sẽ giải thích với cô. Câu chuyện này khá tế nhị, nên tôi nghĩ rằng một lá thư sẽ tốt hơn là những lời trao đổi trực tiếp với cô.

Cô không ưa gì tôi lắm, phải không? Tôi đoán biết điều này. Nhưng không sao cô ạ! Chỉ cần cô là một người có tấm lòng là đã đủ. Tôi đã nói lăng nhăng đủ thứ chuyện với cô là để tìm hiểu về cô, để xác định cô có thể giúp tôi không, có thể giúp một em bé gái tìm được giấc mơ của mình không. Cô còn nhớ lần gặp trước, khi tôi nói về niềm tin chứ ? Câu trả lời của cô thật tuyệt: "Tôi tin vào lòng tốt của con người!" Cô biết không, tôi đã muốn nhảy lên, hét to vì mừng rỡ khi nghe cô nói câu nói đó. Cuối cùng, tôi đã hiểu được cô rồi. Cuối cùng, tôi đã thật sự tin rằng những câu chuyện cổ là có thật, ngay trong đời thực của chúng ta...

Thật ra, câu chuyện cổ ấy đã bắt đầu từ hôm tôi gặp cô lần đầu. Cô rất giống với một người con gái. Chắc cô đã xem tấm ảnh tôi bỏ kèm trong phong thư rồi phải không? Cô giống cô ấy như thể là hai chị em sinh đôi vậy. Có điều, tóc của người con gái ấy dài hơn và ddể xoã, còn cô thì lại thường thắt bím. Cô thân mến ơi! Cô đã xuất hiện như một bà tiên trong truyện cổ tích, làm cho nguyện ước từ lâu của một cô bé sẽ có thể trở thành sự thật.

Cô ạ, người trong ảnh ấy đã mất, cách nay sáu năm rồi. Khi qua đời, chắc cô ấy trẻ hơn tuổi của cô bây giờ một ít. Chỉ có điều khi ấy cô ta đã là mẹ của một bé gái lên hai tuổi.

Em bé này tên là Diệu Anh. Nó không có cha, cô à. Một người đàn ông nào đó đã lợi dụng tình yêu của người mẹ và đã bỏ đi. Người mẹ trẻ một mình sinh nở, nuôi con. Nhưng cô ta quá suy nhược về sức khoẻ, tâm thần nên đã chết đi, bỏ lại Diệu Anh bơ vơ cô độc. Bé đã được một bà dì độc thân trong xóm nhận làm con nuôi. Bé dễ thương, ngoan lắm, trong xóm ai cũng yêu nó hết. Và tôi cũng yêu nó, dĩ nhiên thôi. Cô biết không, vào một đêm Giáng sinh cách đây đã hai năm, lúc ấy Diệu Anh lên sáu, nó đã thầm nguyện cầu sẽ được trông thấy mẹ vào lúc nửa đêm, chỉ cần một lần được trông thấy mẹ hiện ra, với nụ cười, khuôn mặt, dáng người là nó sẽ vô cùng sung sướng. Vì nó không biết mặt mẹ mà, mẹ nó ra đi quá sớm. Nó đọc mấy truyện cổ Andersen tôi mua cho, trong đó có truyện Cô bé bán diêm. Nó thấy cô bé trong truyện ấy đốt những que diêm lên rồi trông thấy lại mẹ, bà...Nhưng còn nó, nó chỉ hình dung được mẹ qua một tấm ảnh đã cũ lắm rồi. Nó đã thử đốt nhiều que diêm mà không sao thấy mẹ hiện về. Nó đã kể tất cả cho tôi nghe như vậy đó cô.

Cô à, lúc ấy, tôi đã nói với nó rằng cháu cứ nguyện cầu đi, rồi ngày nào đó, Chúa sẽ thực hiện cho cháu điều ước ấy, nếu cháu có một lòng tin mãnh liệt. Thâm tâm tôi, tôi biết làm sao một ước nguyện như thế lại có thể trở thành hiện thực. Cô thấy đó, tôi đã dối gạt một đứa trẻ con. Tôi dối gạt nó, vì khi ấy nó còn nhỏ quá, tôi không nỡ làm cho mơ ước, niềm hy vọng của nó vỡ tan, tôi không nỡ thấy nó thất vọng, buồn rầu. Và nó đã tin tôi, cô à, như tin vào Chúa! Nó đã nguyện cầu như vậy hai mùa lễ Giáng sinh rồi. Còn tôi, tôi ngày càng buồn bã, ghét mình, e ngại phải gặp mặt bé Diệu Anh.

Người mẹ chỉ để lại chút ít đồ dùng khi mất, trong đó có một tấm ảnh, chính là tấm ảnh mà cô đang giữ đó. Con bé lấy ra xem lại mỗi đêm. Và tôi cũng đã nhiều lần nhìn thấy nó khi ghé thăm con bé. Do vậy, khi gặp cô, tôi đã vô cùng sửng sốt và mừng rỡ. Tôi đã suy nghĩ tìm ra một cách để bé Diệu Anh đạt được nguyện ước của mình, đồng thời không làm nó ngỡ ngàng khi nhận ra sự thật, rằng cô không phải là mẹ nó. Tôi đã nghĩ ra rồi. Nhưng tôi còn phải nhận được sự giúp đỡ của cô. Và sau đó, tôi tìm cách tiếp xúc tìm hiểu về cô, như cô đã biết.
Cô thân mến! Tôi mừng không thể tả khi nghe cô nói câu nói đó, thật mà ! Và tôi biết thế là mình đã thành công được một nửa rồi. Tôi chắc rằng sau khi đã hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, cô sẽ sẵn sàng làm mọi chuyện vì đứa bé mồ côi tội nghiệp ấy, phải không cô?
Mong cô đừng giận, đến giờ tôi vẫn chưa biết tên cô. Tôi là một người ít ăn nói, ít tiếp xúc xã giao, đối với con gái lại càng e ngại. Vì thế, tôi đã phải cố gắng dữ lắm khi tìm hiểu trò chuyện với cô, căng thẳng đến mức lần nào cũng quên khuấy mất việc hỏi tên cô, rồi lúc về nhà mới sực nhớ ra. Lẩm cẩm và đãng trí quá, phải không cô! Tôi tên là Du, cô à. Mong sẽ được biết tên cô vào lần gặp gỡ sau. Kế hoạch cho đêm Giáng sinh như thế nào, hai hôm nữa tôi sẽ tới gặp cô vào buổi chiều để bàn bạc nhé.
Cám ơn cô và tạ ơn Chúa lòng lành.
Thân ái chào cô.
Một người sẽ là bạn của cô.
Phạm Trí Du
***

Tôi dắt chiếc xe đạp đi chầm chậm trong con hẻm nhỏ. Không gian hoàn toàn yên lắng. Giờ này, những đứa bé đang say ngủ và mơ những giấc mơ ngoan, và ngày mai chúng sẽ hớn hở mở gói quà Giáng sinh của ông già Noel mang đến. Chỉ có một em bé đang còn thao thức. Em bé ấy đã nuôi một giấc mơ qua ba mùa lễ Giáng sinh, đã ao ước một món quà mà không một ông già Noel nào mang tới cho em được. Và tôi, một con nhỏ sinh viên tầm thường, nhiều đức tính cũng như thói xấu, đêm nay sẽ trở thành một bà tiên hạnh phúc.
Du đang chờ tôi ở nhà bé Diệu Anh. Mấy mùa đông rồi, anh vẫn là người cùng đón Giáng sinh với bé trong gian nhà chật hẹp, với một cây thông làm lấy thô sơ, với một cái hang đá bằng giấy dầu đã dùng đi dùng lại mấy mùa. Du đã kể cho tôi nghe thật nhiều về Diệu Anh, những câu chuyện trẻ con thôi, mà sao thật xúc động êm đềm. Tôi ngỡ như mình đã quen biết với bé từ lâu lắm, và lòng tôi chan chứa những tình cảm yêu thương, dù vẫn chưa gặp bé. Cả anh nữa, cái gã đáng ghét ấy, từ bao giờ cũng đã trở thành một nỗi nhớ dịu êm. Ngỡ như tôi cũng đã quen biết anh từ lâu lắm.
Đã đến trước ngôi nhà có một khoảnh sân nhỏ xíu và một cây hoa sứ đại. Tôi hít một hơi thật sâu, ngửa đầu nhìn lên bầu trời. Trăng hạ tuần như một mảnh sứ hình lưỡi liềm màu bạc đang treo lơ lửng giữa muôn sao lấp lánh.
Ánh đèn từ cửa sổ hắt ra, lan dài trên mảnh sân thành một vệt sáng mờ. Có tiếng nói rì rầm, tiếng cười thanh mảnh của trẻ con. Họ đang nói chuyện gì? Hay Du đang kể một câu chuyện thần tiên nào đó? Tôi nhìn đồng hồ tay. Còn vài giây nữa nửa đêm.
Tôi bước chầm chậm đến cửa. Cánh cửa chợt mở rộng ra. Du đứng nghiêng người sang một bên, nụ cười sáng rực trên môi mắt. Ở góc bàn, một cô bé mặc áo đầm trắng ngồi lặng người, tròn xoe mắt nhìn tôi.
Hồi chuông lễ ngân vang. Đêm trong veo, thánh thiện trong đôi mắt thơ ngây đang nhìn tôi không chớp. Rồi đôi mắt đỏ hoe lên. Những giọt nước mắt long lanh lăn tròn trên đôi má bầu bĩnh. Diệu Anh bật dậy, lao tới bên tôi.
- Meeẹ !
Tôi quỳ xuống, dang vòng tay đón bé. Mắt tôi cay xè, rồi nước mắt ứa ra. Diệu Anh dụi mái tóc mềm vào vai tôi. Mùi thơm da thịt trẻ con thoang thoảng. Lòng tôi bỗng dào dạt một niềm hạnh phúc và sự ấm áp vô bờ. Trong một khoảnh khắc thật ngắn, tôi nghe như có tiếng nhạc rung lên khe khẽ trong tai. Những hình ảnh tuổi thơ bềnh bồng trôi về trong tâm trí. Tôi bắt đầu tin những truyện cổ tích là có thật.
- Diệu Anh - Tôi nói khẽ - Cô không phải là mẹ cháu, cháu cũng biết mà. Nhưng từ nay, cô sẽ thương yêu cháu, chăm sóc cháu...- Cổ tôi đã nghẹn vì xúc động.
Tôi ngoảnh lại nhìn Du. Anh đã bước ra trước cửa, ngẩng nhìn lên bầu trời đêm thẳm. Tôi đứng dậy, bế Diệu Anh trên tay, bước tới đứng bên Du. Hồi chuông lễ nửa đêm vừa chấm dứt.
 
Mùa Noel- 2002



Địa Chỉ