Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện dài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện dài. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012

Mùa xa nhà - Chương XX





CHƯƠNG 20


Lại một năm mới đến trong cuộc đời quân ngũ của Huy. Thêm một việc đau lòng đã xảy ra vào một ngày tháng Năm năm ấy, ngay trước lúc Huy quay trở lại quê nhà. Nó làm cho tất cả những người lính tình nguyện đau đớn xót xa, làm cho dân chúng quanh vùng phẫn nộ, sợ hãi và căm oán,  làm cho cả những lượn khói nhạt chiều hôm và ráng trời đỏ rực sau núi Svai chiều chiều giờ đây cũng nhuốm màu tang tóc. Mọi chuyện bắt nguồn từ một thời điểm xa hơn, như sau này một số đồng đội cùng đơn vị của kẻ thủ ác và người thân  của các nạn nhân thuật lại.
Mùa xuân năm trước, tiểu đoàn X dời cứ từ một xã phía nam về trú đóng tại phum Cần Đan, một phum lớn ở hướng Đông Bắc núi Svai, cách phum Chan Đai hơn hai mươi cây số đường chim bay. Đây là một tiểu đoàn dân vận, nhiệm vụ chủ yếu của nó không phải là chiến đấu cơ động, mà như tên gọi, là làm công tác dân vận, nhằm tăng cường mối quan hệ đoàn kết  và sự thông cảm hiểu biết giữa quân dân. Đơn vị gồm những người lính nói rất sỏi tiếng Khmer, một số cán bộ thậm chí còn biết viết chữ Khmer đẹp và đúng hơn cả nhiều người dân nữa. Họ chia ra mỗi tổ ba bốn người, vào cùng ở, cùng ăn, cùng làm với dân, và nhanh chóng chiếm được cảm tình, lòng tin cậy. Trong tiểu đoàn có Z, một hạ sĩ quan tính khí hơi kỳ lạ. Gã hiếm khi cười nói vui vẻ với bất kỳ ai, có tật nghiện rượu, hay lẻn đi uống rượu một mình.
Z rất thích May, một cô gái trẻ trong phum. Gã thường tìm cách lân la tán tỉnh May, nhưng nàng không ưa gã, luôn tìm cách lẫn tránh. Thật sự, cứ trông thấy gã lúc nào cũng ngật ngưỡng say, mặt mày đỏ ké, đôi mắt ngầu đục lờ đờ, nét mặt lầm lì bí hiểm, chẳng cô gái nào lại không e sợ. Gã tấn công, và May lẩn tránh, cứ thế ngày tháng trôi qua. Có lẽ lúc đầu thái độ của cô gái càng kích thích máu chinh phục của Z, làm cho gã thêm quyết tâm. Nhưng rồi thấy bao nhiêu thời giờ, công sức bỏ ra vẫn không giúp gã tiến thêm một bước, gã trở nên thất vọng, chán chường. Trong lòng gã, một cảm giác hận thù, ganh ghét đã nẩy mầm. Gã cay đắng vô cùng, uất nghẹn trào lên cổ khi nhìn thấy May cười nói vui vẻ với các đồng đội của mình. Nhiều lúc gã muốn gào lên câu hỏi: "Tại sao tôi tốt với cô, mến yêu cô, mà cô đối xử với tôi tệ bạc như vậy? Tôi phải làm gì cho vừa lòng mát dạ cô?" Càng thất tình tuyệt vọng, gã càng rượu chè be bét, bất chấp mọi lời khuyên can răn đe của đồng đội, cấp trên. Và không biết từ lúc nào, lòng gã đã manh nha một ý tưởng trả thù đê hèn, man rợ.
Buổi sáng định mệnh ấy đến. Đó là một ngày trời đẹp, nắng chói chang rực rỡ. Hôm trước, dân làng đã hẹn nhau cùng ra cánh trảng bìa rừng để cắt tranh. Họ khởi hành từ tờ mờ sáng, gồm cả các ông già, bà lão, trẻ con, đàn bà con gái, tất cả chừng mười bốn mười lăm người, tay liềm tay hái vừa đi vừa nói cười ríu rít. Một đôi mắt đỏ ngầu hấp háy bắt gặp đám dân làng khi họ vừa đi ra khỏi bìa phum, Z  cười gằn nhìn theo cho đến khi người cuối cùng đã khuất sau rặng cây cao. Gã quay vào phum, tìm rượu uống.
Gần hai tiếng sau, Z chuệnh choạng quay về chỗ ở. Gã vớ khẩu AK, choàng thêm một bao se ba băng đạn, rồi len lén tìm đường cắt vào rừng, đi vòng ra phía sau nơi những người dân đang cắt tranh. Lúc gã rời nhà, mấy người lính ở chung với gã trông thấy, nhưng họ không chú ý, tưởng gã đi công chuyện hay bắn chim đâu đó.
Vào thời gian ấy, rừng đang lúc xanh tươi rực rỡ, cây cỏ đâm chồi nẩy lộc sau những trận mưa rào. Lá non xanh ngắt rung rinh trong gió. Hoa nở khắp nơi, trên những đỉnh cây, trong những bụi lùm thấp nhỏ. Lan thủy tiên trắng tinh khôi, lan ngọc điểm tím ngát, hoàng lan vàng rực rỡ. Cả những khóm địa lan thấp bé mọc dưới những tàng cây rậm, nép bên những chùm rễ cong xù xì và phủ đầy rêu xám cũng trổ nhánh khoe những nụ hoa nho nhỏ màu tím nhạt. Tiếng chim cu, chim cà cưỡng, sáo sậu, sáo đá, sơn ca véo von hót gọi bạn tình, tiếng lá rơi xao xác, tiếng chảy rì rào của những con suối nhỏ, tất cả dệt thành một chuỗi nhạc rừng liên miên vô tận. Rừng thật đẹp, như một thiếu nữ xuân thì. Nhưng Z như một người vừa mù vừa điếc, gã không nghe, không thấy gì khác ngoài những ý nghĩ đen tối trong đầu.
Z xuất hiện trước mắt đám dân đột ngột, nòng súng đen ngòm chỉa thẳng về phía họ. Mọi người giật mình khi nhận ra nét mặt gã thật kỳ lạ khác thường. Họ ngưng làm việc, đứng lặng nhìn gã, lo lắng và sợ sệt.
- Người già, con nít ngồi xuống đó, không được nhúc nhích cho đến khi nào tao cho phép.  Mấy đứa con gái theo tao đi vào rừng – Z nói, gằn giọng từng từ một.
Những người dân nhìn nhau kinh ngạc. Rồi một cụ già, Son Kê, lấy hết can đảm hỏi gã:
-  Mày định làm gì vậy, coong tóp Z?
-  Câm miệng lại  – Z  giận dữ quát – Không hỏi han gì cả. Đứa nào nhúc nhích hay mở miệng tao bắn chết ngay! Ngồi xuống!
Già Son Kê nhìn mọi người, ra hiệu cứ nghe theo lời gã. Trông gã lúc này thật khủng khiếp, như thể đang bị quỷ ám, không ai dám chắc gã chỉ hù dọa hay sẽ bắn thật sự. Họ miễn cưỡng ngồi xuống.
Z có vẻ hài lòng khi thấy mọi người tuân phục, gã quay sang mấy cô gái, tay chỉ vào rừng:
- Đi!
Trong đám dân có ba cô gái, May, Sori và Chun. Ba người lưỡng lự bước, Z đi sau họ, khẩu súng vẫn lăm lăm chỉa thẳng.
Vào sâu chừng chục thước, Z quay lại nhìn ra. Đám người ngoài kia vẫn ngồi im. Gã ra lệnh:
- Con Sori lấy khăn krama trói tay hai đứa kia cho tao.
Sori sợ hãi nhìn gã, lắc đầu. Gã trừng mắt. Cô đành nghe theo gã, run run tháo chiếc khăn choàng trên đầu May và Chun cột tay họ lại. Z bước tới, thô bạo xô hai cô té ngửa trên mặt đất, rồi hắn đeo súng vào người, giật chiếc khăn của Sori, lôi cô tới một gốc dầu nhỏ, ở một chỗ vừa quan sát được đám dân ngồi ngoài bìa rừng, vừa nhìn thấy May và Chun, cột chéo hai tay cô ra sau thân cây. Sori bật khóc, cô van xin hắn :
- Boòng ơi, đừng làm vậy. Đừng boòng ơi, tội cho Sori lắm!
Z nhếch mép cười gằn. Hắn xé toạt chiếc áo, rồi chiếc xà-rông của Sori, bắt đầu cưỡng hiếp cô ngay trước mắt hai người còn lại. May và Chun co rúm người lại, cúi gằm mặt xuống, run bần bật vì mắc cỡ và sợ hãi, rồi họ khóc nấc lên khi nghe thấy tiếng Sori kêu gào rên xiết nghẹn ngào. Chừng hai phút sau, May quyết định bỏ chạy, cô đá nhẹ chân Chun ra hiệu. Cả hai thình lình đứng dậy, loạng choạng chạy ra phía bìa rừng.
Z gầm lên cuồng nộ. Gã vội vàng mặc chiếc quần đùi vào, đuổi theo. Đám dân phía ngoài cũng bắt đầu bỏ chạy tán loạn khi trông thấy May và Chun vùng chạy. Z mở khóa an toàn, xả đạn vào hai cô gái và những ông già bà lão chậm chạp chạy phía sau. Rồi hắn đuổi theo, tiếp tục hạ sát những người còn lại.
Hôm ấy, có tất cả năm người bị Z giết chết, trong đó có May và Chun, và năm sáu người nữa bị thương, Sori may mắn sống sót vì Z mải đuổi bắn những người kia đã bỏ quên cô.  Khi bộ đội tiểu đoàn X nghe thấy tiếng súng, chạy ra đến hiện trường, họ sửng sốt bàng hoàng khi thấy xác những ông bà già, con nít đẫm máu nằm rải rác trên cánh trảng. Z đang điên cuồng  đuổi bắn một thằng bé. Họ nhanh chóng bao vây, kêu gọi gã bỏ súng đầu hàng. Z  giờ đây đã say máu và liều mạng, gã bắn trả lại đồng đội và tìm cách bỏ chạy. Cuối cùng, một phát đạn bắn gảy xương đùi Z mới buộc gã thôi hung hăng chống cự. Sau đó, họ chuyển Z lên quân trạm Đoàn, tạm giam gã để chữa thương và chờ ngày xét xử.
Mọi việc xảy ra bất ngờ và khủng khiếp, ngoài sức tưởng tượng của bất kỳ ai. Thế nhưng nó đã xảy ra rồi. Toàn Tiểu đoàn X  đều đau lòng và ân hận, họ không biết phải giải thích sao với những người dân về tội lỗi của một đồng đội. Dân làng vô cùng căm phẫn và đau xót, họ nguyền rủa bộ đội Việt Nam, đòi được tự tay xử tội Z, trả thù cho người thân của họ. Không khí trong phum thật nặng nề, u ám. Bao nhiêu công lao, bao nhiêu mồ hôi và máu của những đơn vị quân tình nguyện đổ ra, trong thoáng chốc trở nên vô nghĩa chỉ vì một cá nhân. Tình cảm gắn bó giờ đây bỗng có một khoảng cánh ngăn chia  không dễ gì hàn gắn lại.
Sự vụ được báo cáo khẩn trương lên cấp trên, lên tới chỉ huy cao nhất của Mặt trận. Bản báo cáo nêu rõ những đòi hỏi của dân chúng, và kiến nghị tổ chức Tòa án quân sự đặc biệt xét xử và thi hành án tại chỗ và ngay lập tức để xoa dịu lòng dân. Hội đồng quân pháp Mặt trận ngay sau đó đã ra quyết định xét xử Z ngay tại phum Cần Đan. Phiên tòa công khai được thông báo đến những đơn vị đóng quân trên các địa bàn lân cận. Mỗi đơn vị được yêu cầu cử đại diện tới dự khán phiên tòa.
Vụ xét xử được tiến hành tại khoảng đất trống trước sân chùa. Ngay từ  mờ sáng, đã có đến hàng trăm dân quanh vùng  tụ họp về, xôn xao bàn tán chuyện trò. Quân nhân các đơn vị lần lượt tới không lâu sau đó.
Vì là đơn vị gần bên, các cán bộ chiến sĩ thuộc tiểu đoàn của Huy đến xem xét xử khá đông. Huy dẫn theo Thuận, Kiên cùng đi. Anh lặng im quan sát. Tuy có rất đông người, nhưng không khí khá im lìm lặng lẽ. Mọi người chỉ khẽ khàng trao đổi với nhau. Họ thì thào nguyền rủa Z, tỏ lòng thương tiếc những nạn nhân, và đều dự đoán, như một lẽ tất nhiên, Z  phải bị xử tử hình. 
Khoảng tám giờ sáng, hai chiếc Zin chở các cán bộ Hội đồng quân pháp Mặt trận, phạm nhân và vài chục tay súng đến nơi. Z được đưa ra khỏi xe với đôi tay bị còng, chân trái gã vẫn còn lớp bột băng. Trông gã ngơ ngác như một kẻ mất hồn, vẻ lầm lì  hung hãn thường ngày biến mất. Giờ đây gã như một đứa bé ngỗ nghịch vừa bị xáng một cú bạt tai như trời giáng, không còn biết gì ngoài cơn sợ hãi điếng hồn.
Đám đông đang lặng lẽ, bỗng nhốn nháo lên khi đoàn xe tới. Ở một góc chợt có tiếng kêu gào khóc lóc nổi lên. Một vài phụ nữ cố giãy giụa, vùng vẫy khỏi  những bàn tay níu kéo để lao tới cào xé Z. Đó là vợ con hoặc chị em của các nạn nhân. Một cán bộ quân pháp lớn tuổi, mái tóc lốm đốm bạc giơ chiếc loa cầm tay lên miệng, nói to bằng tiếng Khmer:
- Bà con hãy bình tĩnh, yên lặng. Tên Z có tội với bà con, quân pháp sẽ xử hắn một cách nghiêm minh. Bây giờ mọi người hãy tìm chỗ ngồi xuống, giữ trật tự  để xem tòa xét xử.
Nói xong, ông cùng năm viên sĩ quan quân pháp khác bước tới ngồi vào chỗ hai chiếc bàn đã được trưởng phum kê sẵn.  Z được hai người lính xốc nách tới ngồi vào một chiếc ghế đặt phía trước, ở giữa vòng người. Một viên sĩ quan đứng tuổi đứng lên, đọc bản cáo trạng. Anh ta đọc từng câu một, ngưng lại, chờ người thông ngôn, một cán bộ của tiểu đoàn X, dịch sang tiếng Khmer cho dân chúng nghe. 
Bản cáo trạng thuật lại diễn biến của hành vi phạm tội, kết thúc bằng đề nghị xử bắn Z, bản án thi hành ngay tại chỗ. Kế đó, vị thẩm phán chủ trì cuộc xét xử, chính là viên sĩ  quan già đầu bạc, bắt đầu việc xét hỏi.
- Bị cáo Z, bản cáo trạng có nêu đúng những hành vi của anh không?
Z  thều thào đáp, gã vẫn cúi gầm mặt xuống đất từ đầu, nét mặt gã nhợt nhạt không còn chút máu.
-  Thưa tòa đúng.
- Anh giết những người dân vô tội vì nguyên nhân, động cơ gì?
-  Thưa tòa tôi không biết.
Vị thẩm phán cau mày:
- Anh bắn giết cả chục người mà không biết tại sao mình làm vậy thật ư!
- Tôi không định giết họ… tôi… tôi chỉ định hãm hiếp mấy đứa con gái cho bỏ ghét. tại họ bỏ chạy nên tôi mới bắn họ.
- Tại sao anh chống cự lại khi các đồng đội ra ngăn cản?
- Dạ… tôi sợ… lúc đó… tôi không còn biết gì… tôi như một thằng điên…
- Anh có ăn năn hối lỗi không?
Z im lặng. Rồi gã bật khóc, lẩm bẩm rên rỉ những tiếng gì đó nghe không rõ.
- Tòa hỏi lại, anh có ăn năn hối lỗi không?
- Tôi… hối hận lắm… hối hận lắm…
- Anh có muốn nói gì với cha mẹ vợ con các nạn nhân không?
Z lắc đầu, vẻ tuyệt vọng. Vị thẩm phán chờ đợi một lúc, rồi nhắc lại câu hỏi. Z ngần ngừ rồi run run nói:
- Tôi có tội. Tôi xin chịu chết để đền tội.
Vị thẩm phán gật đầu, quay sang khoác tay ra hiệu cho viên thư ký. Anh ta mời mọi người đứng lên nghe ông tuyên án: "…Tòa án quân sự Mặt trận tuyên án xử tử  tên Lê Văn Z, sinh năm…, nhập ngũ ngày… tháng … năm…., cấp bậc hạ sĩ, chức vụ tiểu đội phó thuộc Tiểu đoàn X, Đoàn Y vì tội cưỡng hiếp phụ nữ, giết nhiều người dân Khmer vô tội một cách dã man, gây chia rẽ, phá hoại mối đoàn kết quân dân hai nước, làm mất danh dự và uy tín của quân tình nguyện Việt Nam. Án được thi hành ngay tại phum Cần Đan, huyện Svai Chek, tỉnh Bát Đom Boong, và ngay ngày hôm nay, ngày… tháng…năm… Tòa xin thay mặt Quân đội nhân dân Việt Nam nhận lỗi không quản lý giáo dục nghiêm chiến sĩ, để xảy ra việc đau lòng đáng tiếc vừa qua, cầu mong bà con cô bác  tha thứ tội. Bàn tay có ngón dài ngón ngắn, Z  là người xấu, y sẽ phải đền tội. Nhưng quân tình nguyện Việt Nam vẫn còn có nhiều người tốt. Mong bà con cô bác vẫn thương yêu đùm bọc họ. Mất mát của bà con cô bác không có gì bù đắp được, nhưng để an ủi, và giúp đỡ các gia đình nạn nhân trang trải tang ma, chữa trị thương tật, Tòa xin thay mặt Mặt trận gửi cho mỗi gia đình hai tạ gạo và hai ngàn ria. Sau khi thi hành án, mời các bà con ở lại nhận cho."
Ông ngưng một chút, rồi gằn giọng:
- Đội chấp pháp chuẩn bị thi hành án ngay lập tức!
Trong thời gian xét xử, có mấy người lính đã ra phía đồng trống hướng bắc phum chuẩn bị nơi hành hình. Họ chôn một thân cây cao khỏi đầu người. Z được dìu ra, một người lính cột một băng vải đen che mắt gã lại rồi trói vào thân cây. Mọi người đứng quanh im lặng, hồi hộp chờ đợi. Ba người lính chấp pháp xếp thành hàng ngang, ôm súng đứng nghiêm chờ lệnh của viên đội trưởng.
Thân hình Z run bần bật. Gã khóc mếu máo. Không biết sau lớp vải đen, đôi mắt gã vẫn mở to hay nhắm nghiền lại vào giây phút đó.
- Bắn! – Viên đội trưởng quát lớn.
Người Z nẩy lên, giật giật vài cái rồi mềm rũ xuống sau loạt đạn. Viên đội trưởng bước tới gần, kiểm tra xem gã chết hẳn chưa, rồi gật đầu ra hiệu các thuộc cấp thu dọn xác. Cảnh xử tội dường như kết thúc quá nhanh. Mọi người đứng ngẩn ra một lúc. Mặt trời lúc ấy đã lên gần giữa đỉnh đầu. Nắng đỏ như lửa hắt xuống cánh đồng. Bãi xử bắn trong một thoáng lặng im phăng phắc, tiếng những cơn gió rì rào lướt trên ngọn cỏ bỗng nổi lên mồn một âm vang.
Mọi người lần lượt bỏ về. Huy đứng lặng lẽ. Lòng anh không buồn không vui, nhưng nặng trĩu vì một điều mơ hồ không rõ. Ánh mặt trời chói chang rọi xuống làm đôi mắt anh nhức nhối. Bỗng nhiên anh cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Bỗng nhiên anh ước ao được nằm lăn ra mặt đất ngủ vùi một giấc, đầu gối lên trên lớp cỏ mùa xuân thơm và mềm mại. Và khi giật mình thức giấc, anh sẽ vui mừng nhận ra tất cả mọi chuyện trong suốt những tháng năm qua chỉ là một cơn mê sảng, một ác mộng phù du. Nhưng chính ước ao đó giờ đây cũng chỉ là ảo vọng. Những suy nghĩ trong đầu óc Huy như thể không còn chút liên hệ gì với ý chí của anh. Tâm hồn anh dường như bị cắt lìa khỏi xác thân mệt nhoài đòi ngơi nghỉ, nó vẫn đều đặn chuyển động theo một vòng xoay lạ lùng nào đó. Một chuỗi hình ảnh, kỷ niệm xa xôi bỗng lan man quay về trong ký ức  – những trò vui đùa hồi nhỏ, những con người gần như đã biến mất từ lâu khỏi cuộc đời anh. Huy nhớ một cách dửng dưng, như thể chúng chẳng liên quan gì với anh, một người lính giờ đây đang ở một nơi xa lạ. Khi Huy giật mình thoát khỏi những hồi nhớ vẩn vơ đó, nhìn lại xung quanh, tất cả mọi người đã rời bãi hành hình tự lúc nào, cả những người lính trong đội thi hành án cũng đã mang xác của Z đi rồi. Chỉ còn Thuận và Kiên đang ngồi dưới bóng một cây lòng mức chờ anh. Trời đang chuyển mưa, tối sầm, xám ngắt, và gió bắt đầu rít mạnh, tạo thành xoáy lốc, cuốn những cọng rơm cỏ, lá khô  bay tơi tả giữa cánh đồng. 
*****

Trong một trận đánh vào cuối tháng Năm, một quả B nổ tung bên hông công sự của Huy. Huy không trúng mảnh, nhưng sức ép và chấn động quá lớn làm anh ngất xỉu. Khi tỉnh lại, anh thấy mình đã nằm ở quân y viện Sư đoàn. Huy nằm ở đó điều trị gần một tháng. Sau đó, anh được đơn vị giải quyết ra quân. Trước khi về nước, Huy quay lại thăm Chan Đai lần cuối, để từ giã, có thể là vĩnh biệt nơi này mãi mãi.
Những người quen anh gặp lại đều mừng cho anh được trở về, nhưng rất buồn khi phải xa anh. Me của Soun ôm lấy Huy khóc ngất. Anh gục vào vai me, nước mắt tưởng chừng đã khô cạn từ lâu bỗng tràn trề như nước lũ. Vai áo me đẫm ướt nước mắt Huy. Và ngực anh đầm đìa nước mắt của bà. Anh cũng ghé vào thăm búc Hô, ngồi uống với ông một vài ly rượu. Rượu giờ đây có vị đắng vô cùng.
Khi nắng chiều sắp tắt, Huy một mình ra thăm nhà mồ của me Sa Rinh và của Soun. Những người thân yêu nhất trong một mùa giông bão  – mùa xa nhà của anh – đã lần lượt bỏ anh đi mãi. Và giờ đây đến lượt anh cũng rời bỏ những người thân yêu còn lại ở đây, để quay về nơi thân yêu cũ, nơi gắn bó ruột rà máu thịt. Nhưng bạn bè đồng đội của anh vẫn còn ở lại nơi đây, với biết bao khó khăn, gian lao chồng chất. Mồ hôi và máu của những người lính sẽ còn đổ xuống, thấm vào mỗi lá rừng, mỗi hạt cát ở nơi đây. Lòng Huy chợt gợn lên câu hỏi: "Ở đâu là quê hương?" Quê hương anh là miền Nam nước Việt, ở đó anh đã sinh ra, lớn lên với biết bao kỷ niệm êm đềm, ở đó anh có những người thân, bè bạn. Quê hương anh bây giờ có thêm một mảnh đất vùng tây bắc Campuchia, nơi anh đã sống, chiến đấu, và đã yêu, nơi anh đã học những bài học về yêu thương và về cuộc sống. "Rồi mai này xa cách," Huy nhủ thầm trong lòng, khi nhìn những lượn khói hương đang bay lửng lơ trong nắng chiều vàng vọt, "Rồi mai này xa cách. Nhưng quê hương ơi, tôi sẽ giữ hoài trong lòng nỗi nhớ mênh mang".
Còn nỗi buồn của riêng anh? Chỉ là những tiếng thở dài cuốn vào không gian vô tận.
              
Viết xong đêm giao thừa
Xuân Kỷ Mão 1999



Mùa xa nhà - Chương XIX






CHƯƠNG 19


Năm ấy, tiểu đoàn trải qua một mùa khô gian khó. Trời hạn lớn. Cây cỏ xơ xác héo vàng vì thiếu nước. Những giàn bầu giàn mướp, những luống rau đậu họ trồng khô chết cả. Không khí hanh hao nóng bức làm thân thể họ lúc nào cũng nhơm nhớp mồ hôi. Những con suối gần khu vực đóng quân đều khô cạn. Họ phải đi sang phum lân cận cách đó bảy cây số tải về từng can nước. Chiếc hồ sen cạnh chùa chẳng mấy chốc cũng chỉ còn một lớp nước cạn sệt bên trên lớp bùn dưới đáy. Dân phum và những người lính phải lần lượt xếp hàng chờ đợi đến lượt từng người để chắt từng ca nước trong mấy cái hố nhỏ đào sâu xuống đáy hồ. Liên tục gần hai tháng trời, những người lính cách ba bốn ngày mới tẩm ướt chiếc khăn để lau sơ một lượt qua thân thể.
Khoảng  giữa tháng Bảy, tiểu đoàn được lệnh hành quân lên cao điểm 182. Theo quân báo trung đoàn, một lực lượng khoảng hai trăm lính Pol Pot đã tập trung về đó chừng nửa tháng, đóng quân quanh một hồ lớn giữa rừng. Và cao điểm cũng là nơi duy nhất trong vòng bán kính hơn năm mươi cây số có nguồn nước. Trên bản đồ, ký hiệu xanh lơ của chiếc hồ nổi lên thành một vệt dài. Mọi người chuẩn bị cho đợt hành quân mà lòng  ngao ngán. Suốt một thời gian dài khô hạn, thần kinh ai nấy cũng căng thẳng và bực bội, và thân xác họ rã rời bãi hoãi, chỉ cầu mong mưa xuống. Đi đánh nhau trong tình trạng như thế, không mong gì một kết quả khả quan, nhưng quân lệnh như sơn, là lính dù muốn dù không họ cũng phải chấp hành. Họ cố tìm đủ nước để mang theo, nhưng nhiều lắm mỗi người cũng chỉ kiếm được nửa can vàng. Họ chỉ còn hy vọng lên tới cao điểm sẽ nhanh chóng đuổi được địch, chiếm lấy hồ nước để  tha hồ uống cho thỏa thích.
Cao điểm cách Cứ chừng sáu mươi cây số. Tiểu đoàn cố vượt qua khoảng cách đó trong đêm để tránh cái nắng ban ngày, nhưng trời oi bức mà họ lại không dám dùng đủ nước, nên tốc độ càng lúc càng giảm.  Đến sáng, họ còn cách vị trí hơn năm cây số. Tiểu đoàn trưởng Bảo cho đơn vị dừng lại giải lao. Những người lính móc mấy bao gạo sấy ra đổ nước vào rồi nhá nhá cho đỡ  đói. Không ai dám đụng đến lương khô. Thứ đó chỉ để dành cho những buổi tối ngồi nhấm nháp uống trà nói chuyện ở Cứ, đi tác chiến mà ăn lương khô chỉ tổ uống nước nhiều nặng bụng đi không nổi. Sau đó một giờ, họ lên tới hồ. Đội hình chiến đấu được triển khai và áp sát dần vào, nhưng cuối cùng họ phát hiện địch đã rời cao điểm mấy ngày trước đó. Rải rác chỉ còn dấu những bếp đào quanh bờ hồ. Chiếc hồ chỉ còn là một trũng đất rộng, khô như bầu trời và mặt đất. Nó chỉ còn là một xác chết của chiếc hồ có ký hiệu xanh lơ vẫn nằm tươi rói trên mặt bản đồ.   
Tiểu đoàn trưởng Bảo cáu tiết chửi thề ỏm tỏi, nhưng cơn giận của anh nhanh chóng xìu xuống, anh bắt đầu cảm thấy lo âu khi nghĩ tới chặng quay về. Nếu quay trở lại theo đường cũ, họ phải băng một con trảng dài gần năm mươi cây số dưới ánh nắng chói chang. Đó là con đường ngắn nhất. Còn đi vòng xuống hướng tây một chút, khoảng ba mươi cây sau, họ sẽ gặp phum đầu tiên, và có thể tìm được ít nước. Nhưng đường xa gấp rưỡi, và có nhiều khả năng đụng địch, mà lúc này mọi người đều mệt mỏi và đuối sức, không đụng địch cũng đã muốn nhấc chân không lên rồi, còn đánh đấm gì được nữa.
Cuối cùng, Bảo quyết định chọn đường vòng. Tiểu đoàn quay về như một đoàn quân thất trận, tệ hơn cả thất trận. Từng nhóm lính rải rác lê chân trên cánh trảng, không hàng lối trật tự gì. Nhiều người ngất xỉu nằm lăn ra trên đất, nhất là các trung đội hoả lực. Kiên và Vũ, hai lính mới của trung đội không chịu nổi cũng ngã qụy khi còn cách phum chừng năm cây số. Huy rút trong túi cóc ra chiếc bình toong. Sau lần ở biên giới trở về, không bao giờ Huy quên giữ một bình toong nước mỗi lần đi tác chiến. Nhiều khi anh mang theo và lại mang về, không đụng đến suốt một đợt truy quét. Nhưng thói quen ấy bây giờ rõ ràng là có ích. Huy rót ra nắp bi đông, cho Kiên và Vũ nhấp từng ngụm thật nhỏ, và cũng không cho hai đứa uống nhiều, chỉ độ ba nắp bi đông. Sau đó, Kiên, Vũ khá hơn, và họ lại tiếp tục lên đường. Lần lượt, những nhóm lính cũng vào được tới phum. May là họ không gặp địch ở đó.
Đó là một phum lạ, Tiểu đoàn chưa từng ghé qua lần nào. Dọc theo con đường chính giữa phum là hai hàng dừa cao nhiều trái. Những người lính năm lăn ra dưới gốc dừa, thèm thuồng nhìn những trái dừa to xanh ngắt trên đầu. Sau một lúc nghỉ ngơi lại sức, mọi người tản vào nhà dân hỏi xin dừa. Những người dân có vẻ không sẵn lòng vui vẻ. Họ lắc đầu ngoay ngoảy, và đổ là không biết dừa của ai, dù cây dừa mọc ngay trước cửa nhà. Nhà này bảo: "Không biết đâu, chắc đó là dừa của nhà ở hướng bắc". Sang nhà hướng bắc, lại nghe bảo: "Chắc là của nhà hướng tây!" Những người lính nổi cáu, họ giơ AK lên bắn lên đọt dừa, làm dừa non dừa già rớt  lộp độp. Khi đó, mấy bà cụ già mới chạy ra mếu máo: "Mấy con ơi, đừng bắn chết cây mất, thôi leo lên hái đi. Đừng bắn nữa!"
Huy theo dõi cảnh tượng đó, vừa cảm thấy tức cười, vừa xót xa cho thân phận những người lính xa nhà. Bọn Huy dù sao cũng chỉ là những chàng trai trẻ, chịu đựng quá nhiều cực khổ, mà những người dân này lại đối xử  với bọn anh một cách vô tình. Hay là họ cũng có những khổ tâm riêng? Những trái dừa kia là nguồn sống của họ chăng? Có phải thóc gạo của họ, vịt gà, heo chó của họ, cây trái của họ đã nhiều lần bị những đoàn lính tráng, bên này hay bên kia, cướp phá? Đến độ với họ chỉ còn nỗi khiếp sợ và căm ghét? Vậy ai là người có lỗi, và ai là kẻ đáng thương hơn? Những người lính đang ngang ngược bắn phá này, hay những người dân  sống trong thời loạn ly khói lửa kia?   
***
Cơn hạn kéo dài đến cuối tháng Bảy, chừng như đã hả hê với những hoành hành tội tình đã trút xuống đầu dân chúng, nên đột ngột biến đi. Một buổi chiều gió bỗng nổi lên, quất mạnh vào những lũy tre bao bọc quanh các phum, bẻ gãy những cành khô mục to kềnh trên những thân cổ thụ, rồi mây đen nghìn nghịt kéo đến đầy trời. Mưa giông như trút, trong khoảnh khắc đã đổ đầy các con suối, rãnh nước và cả một vùng trảng thấp. Mưa sầm sập suốt đêm. Ngày kế tiếp nắng ráo. Rồi sau đó đều đều cách quãng hai ba ngày lại có một ngày mưa gió.
Sau những cơn mưa đầu mùa, cây cối trong phum, trong đồng cỏ, cánh rừng bắt đầu xum xuê xanh tốt lại. Măng le, măng tre gai nhú lên tua tủa như những chiếc chông bụ bẫm bên gốc những cụm tre già. Nấm mối, nấm hương đua nhau mọc đầy trong các khe suối, trên những thân gỗ mục. Tuy vậy, dân ở phum Chan Đai không rủ nhau lũ lượt vào rừng tỉa măng, hái nấm như mọi năm. Năm đó, các lực lượng địch vừa mới huấn luyện từ biên giới đổ về rất nhiều. Các đơn vị quân Việt Nam lần lượt bị bao vây, đánh úp, có đại đội đã phải bỏ Cứ mở đường máu thoát khỏi vòng vây. Các trận đánh xảy ra như cơm bữa giữa quân Việt Nam và quân Khmer đỏ, cả những đường mòn lối nhỏ trong rừng cũng chăng đầy mìn các loại.  Đã có vài ba người ở phum bên vào rừng vướng phải mìn của địch gài dọc theo những lối mòn, bờ suối.
Một buổi sáng nắng đẹp, Soun một mình đi vào rừng hái nấm. Rừng cây thân thuộc không ngăn cô lại, không kêu lên những lời cảnh báo. Soun đi vào rừng một mình. Và không bao giờ quay về nữa.
Thật ra Soun biết những hiểm nguy đang rình rập trong rừng. Nhưng nghĩ tới những chiếc nấm non tròn xoe mập mạp, cô thấy tiếc quá. Phần nữa, cô rất thích vừa tha thẩn hái nấm, vừa thầm thì nói chuyện với lũ bướm rừng và trêu chọc bọn sóc con hay giương mắt ngơ ngác nhìn người lạ rồi kêu ré lên và bỏ chạy, và vừa nghĩ tới Huy nữa. Hôm Huy lẻn về phum đặt cái đèn trước cửa, sáng ra Soun là người đầu tiên trông thấy nó. Thoạt tiên cô giật mình kinh ngạc, rồi cô hiểu ra ngay mọi chuyện. Soun ôm chiếc đèn vào lòng. Miệng cô tự nhiên bật thốt những câu dân ca tình tứ véo von. Soun vui mừng, sung sướng ngất ngây. Một niềm vui, xúc động lạ lùng và cả nỗi nhớ Huy chợt ùa vào hồn, làm cô như ngạt thở. Soun tíu tít khoe ngay với me, rồi cô rót dầu từ chiếc đèn cũ ở nhà sang chiếc đèn mới, đốt lửa lên, ngồi nhìn ánh lửa và hân hoan trò chuyện với nó, như thể nó biết nghe và biết trả lời, như thể nó chính là Huy vậy. Soun có một thiên tư và sự hồn nhiên của đa số những cô gái sống ở gần thiên nhiên, rừng núi, đó là xem mọi vật như con người, và rất thích chuyện trò trong tưởng tượng với chúng, dù thật ra cũng chỉ tự mình nói, rồi tự mình nghe.
 - Đèn nằm đây suốt đêm buồn lắm, lạnh lắm phải không… Boòng Soun tệ thật, boòng Soun không biết gì hết, thôi đèn đừng giận nhé! Rồi chị sẽ thương em, lau em và lúc nào cũng rót dầu thật đầy cho em nhé, chịu không?
- Tội cho boòng Huy ghê, đèn nhỉ! Boòng Huy đi tới nhà chị đêm qua chắc là vất vả lắm. Thế mà chị chả biết, chả nói chuyện với anh. Chị cứ  ngủ khì ra. Boòng Soun của em tệ ghê, tệ ơi là tệ!
Soun cứ tíu tít nói những câu không đầu không đũa như vậy trước nụ cười và đôi mắt nhìn âu yếm của me. Bà cũng vui không kém.
Phải, Soun muốn đi vào rừng để hái nấm, về phơi khô dành gửi cho boòng Huy. Cô năn nỉ xin me cho đi. Me không đồng ý, bà cũng muốn có cái gì đó gửi cho Huy, nhưng đi vào rừng thì tuyệt đối là không. Soun nài mãi me cũng nhất định lắc đầu. Nhưng sáng hôm đó, me đi sang nhà tà Nuốc giúp làm đám giỗ. Soun ở nhà làm hết mấy chuyện vặt, cô lại lôi chiếc đèn ra trò chuyện với nó một lúc. Rồi một ý muốn mạnh mẽ chợt xâm chiếm lấy Soun, cô không còn cưỡng lại nó được. Soun cầm lấy chiếc giỏ mây rời khỏi nhà.
Rừng như đang mỉm nụ cười hớn hở và cất tiếng hát ca chào đón bước chân Soun. Những bụi cỏ thấp còn đẫm sương và mưa đêm long lanh, xào xạc kêu lên khi chạm nhẹ vào chiếc xà rông của Soun. Chúng như muốn nũng nịu: “Boòng Soun cúi xuống với bọn em tí nào, cười với bọn em một cái!” Và Soun cúi xuống, mỉm cười với chúng thật dịu dàng. Hoa linh lan nhỏ xíu và trắng muốt cố tỏa hương ngào ngạt hơn khi Soun bước chân qua chúng. Những chiếc lá dài mỏng mảnh ve vẩy, và những nụ hoa run khẽ chào cô. Mấy cây dầu già khom lưng xuống nhìn cô, rồi vừa rùng mình buông mấy chiếc lá đỏ hoe cho rơi lên vai lên tóc cô như ve vuốt, vừa lao xao bàn tán với nhau: “Chà! Con bé càng lớn càng kháu khỉnh quá đi thôi!”
Soun tung tăng len lỏi qua những thân cây già cỗi, những bụi rậm xanh rì, nhận những lời chúc tụng, chào hỏi của chúng và thân thiện vui vẻ đáp chào với chúng. Khi những tia nắng xuyên qua táng lá xanh như ngọc hong khô những giọt sương sớm trên cây lá, chiếc giỏ mây đã được lưng lưng những nụ nấm ngọt ngào. Soun bắt đầu lo âu khi sực nhớ ra mình đã cãi lời mẹ vào rừng. Cô nghĩ thầm: “Thôi không hái nữa, phải về ngay kẻo mẹ lo cho mình lắm.”  
Soun quay về, men theo bờ một con suối nhỏ. Khi bước qua một khoảng đất lầy, cô trượt chân xuýt ngã, nhưng rồi lấy lại thăng bằng được. Vừa mới lấy lại  bình tĩnh sau cú trượt, cô đã bật cười một tràng ròn rã để tự chế giễu mình. Tiếng cười vui của Soun còn chưa tắt hẳn, thì cô chợt nghe một tiếng lách tách rất khẽ ngay dưới chân, rồi một vật gì đó bật tung lên trước bụng cô. Một tiếng nổ xé tai vật Soun ngã lăn ra. Soun nằm trên đất, bé nhỏ, lẻ loi, chiếc áo trắng rách bươm, nhuộm máu. Cái giỏ mây lăn ra cách Soun mấy mét, những nụ nấm nhỏ văng tung toé, có nhiều nụ vương đỏ máu Soun.
Cây lá trên đầu, xung quanh Soun vẫn rì rào lao xao trong gió. Nhưng giờ đây chúng trở thành những vật vô tri vô giác, thản nhiên không biết một cô gái nhỏ đã chết gục dưới chân mình. 

Hôm nay là ngày mấy tháng mấy năm nào vũ trụ có còn không bầu trời này mặt đất này có còn không hay đã vỡ tung ra hồn tôi có còn không hay đã vụn nát thành trăm ngàn mảnh thủy tinh sắc nhọn đang cào cấu tim tôi ngoài kia đêm mịt mùng đen tối ngoài kia gió rít gió gào gió  khóc hờn gì  sao cứ gào rú mãi bên tai đêm đã giấu em tôi nơi nào gió đã chở em tôi đi đâu xin làm ơn trả lại cho tôi xin hãy làm ơn trả Soun lại cho tôi  tôi còn tỉnh đây hay đã mất trí rồi mà bỗng nghe trăm tiếng thét gào rên xiết điên dại rú trong đầu Soun ơi em đi đâu mà me ngồi đây khóc ngất nhớ em mà tôi ngồi đây như đá lặng câm nhớ em. có ai ngoài đêm tối kia xin trả lời tôi em đã đi đâu xin đừng nói với tôi cái từ chết xấu xa khủng khiếp chết là gì tôi không muốn biết tôi chỉ muốn có lại Soun tôi chỉ muốn nhìn thấy lại Soun tôi không muốn tin gì nữa hết tôi không muốn nghe gì nữa hết đừng nói với tôi chết chết chết ôi vật gì đang đâm xé tim tôi…
 Không. Soun không chết. Một thiên thần bé nhỏ như em không thể chết đâu. Tôi không bao giờ muốn tin là mình đã mất em.. Tôi tin là em đã bay đi. Em đã bay đi, với đôi cánh nhẹ nhàng trong suốt, với trái tim yêu thương và đầy lòng nhân ái. Em đã bay đi. Đến một nơi không còn thù hận, không có phân chia. Không có súng đạn, chiến tranh. Và từ nơi cao xa yên bình vĩnh viễn đó, em vẫn mỉm cười nhìn theo tôi thật dịu dàng. Chiếc áo của em không còn hoen đỏ máu tươi. Áo em trắng tinh khôi như mây như nắng, như hồn em trong trắng ngây thơ. (trích nhật ký  của Huy)

Mùa xa nhà - Chương XVIII





CHƯƠNG 18


Con đường về Angkor Wat, nơi Bình đóng quân băng qua những cánh rừng già, và hầu như chỉ có xe quân sự lưu thông. Hiếm họa lắm, cả hai mới bắt gặp một người dân chạy xe gắn máy, còn đa số đều là những vị sư tăng Khmer đi bộ trên đường.
Suốt ngày hôm đó, sau khi rời khỏi cổng quân y viện, cả hai đã quá giang nhiều chặng ngắn. Những chiếc quân xa chở đạn dược, thuốc men và quân trang tới các đơn vị đóng rải rác trong vùng. Mấy anh chàng hạ sĩ lái xe vui tính rất sẵn lòng cho hai người lên xe. “Có hai ông, thêm được hai tay súng, chắc ăn hơn.” Họ hào hứng nhận lời ngay như thế khi Huy và Bình ngỏ lời. Có điều, khi họ rời con lộ chính để quẹo vào đơn vị của mình, hai người lính lại phải cuốc bộ một hồi.
Khoảng bốn giờ chiều, sau một chặng lội bộ chừng sáu cây số, cả hai tới một ngôi chùa nhỏ. Bình bảo Huy:
- Tối nay mình vào chùa này ngủ trọ. Năm trước đại đội tui đóng quân ở gần đây, tui hay tới chùa này chơi và xin mèo về nuôi. Hai vị sư già trong chùa rất tốt.”
Ngôi chùa nhỏ xíu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Mái chùa vỡ toang nhiều chỗ, và trên tường còn chi chít những vết đạn. Vị sư trụ trì trong chùa tên Sim, tuổi khoảng bảy mươi, người gầy khẳng khiu nhưng đôi mắt vẫn còn tinh anh lắm. Vị còn lại tên Nasuk trẻ hơn, khoảng năm mươi, nét mặt rất hiền hòa.
Tối hôm đó, sau bữa cơm, hai vị sư già ngồi trò chuyện với hai người lính trong căn phòng nhỏ sau chùa. Trong lúc đối đáp với hai vị sư, thỉnh thoảng Huy lại nhói lên nỗi nhớ Quân. Nhiều lần anh đã nghe Quân giảng giải về đạo Phật, về những triết lý uyên thâm để tìm giải thoát. Anh thả tâm trí theo những dòng suy nghĩ, không chú ý lắm đến câu chuyện giữa Bình và và hai vị sư. Thình lình, một câu hỏi của Bình chợt kéo anh quay về thực tại.
Bình bảo với vị sư trụ trì:
- Lục tà Sim à, hiện nay, theo con biết, dân Campuchia vẫn còn nhiều người kính yêu ông Hoàng Sihanouk. Mấy người dân trong phum kề bên hồi con còn đóng quân ở đây vẫn dấu hình của ông ta trong nhà. Không biết họ giữ lại hình của ông ta bằng cách nào hồi thời Pol Pot?”
- Ta còn nhớ khoảng thời gian cách nay chừng ba mươi năm – lục tà Sim đáp – dưới thời của ông Hoàng, người dân tương đối ấm no. Những người già luôn nhớ tới thời gian đó. Họ giữ hình ông Hoàng bằng cách nào ta cũng không rõ. Có khi đó không phải là hình cũ, mà là hình của ông ta chụp sau này, được chuyển tới đây từ Thái Lan. Các con coongtop Việt Nam à, Campuchia phải chịu vận số đau thương này cũng là duyên nghiệp. Thời đế quốc Khmer hùng mạnh, chúng ta đã xâm lăng, giết chóc, cướp phá quá nhiều. Người dân Khmer luôn tự hào với quá khứ hào hùng oanh liệt đó, nhưng họ không hiểu rằng bạo lực sẽ được đền trả bằng bạo lực. Tai kiếp này người dân Khmer phải gánh, nhưng ngoài việc là một nhà sư, ta cũng là một người dân Khmer, cũng rất đau lòng trước sự dã man của Pol Pot và quân Khmer đỏ. Bản thân ta cũng suýt bị giết chết dưới thời của chúng.”
Huy nhìn vị sư già, ông ta có cách giải thích thật lạ lùng, nhưng không phải không có lý, vì nó đúng với triết lý nhân quả của nhà Phật. Anh chợt nghĩ tới một điều và cất tiếng hỏi nhà sư:
- Thưa lục tà, bộ đội Việt Nam sang đây đánh đuổi bọn Pol Pot, cứu người dân Khmer thoát khỏi cái họa diệt chủng. Nhưng vì sao, ngoài đảng Cách mạng Campuchia, những đảng phái khác, kể cả ông Hoàng Sihanouk, cứ coi chúng con như kẻ thù? Sao họ không bắt tay với nhà nước Campuchia mới để xây dựng lại đất nước mà cứ đánh lẫn nhau, tranh giành thế lực? Đa số những người dân mà con tiếp xúc ở đây đều thương mến bộ đội Việt Nam. Nhưng tại sao những người lãnh đạo các phe phái đó lại cứ chống đối chúng con, coi chúng con là quân xâm lược?”
Vị sư già nhìn Huy trầm ngâm hồi lâu. Cuối cùng, ông ta nói:
- Việc này cũng có căn nguyên của nó. Campuchia và các nước láng giềng hùng mạnh là Việt Nam ở phía đông và Thái Lan ở phía bắc đã có một mối thâm thù truyền kiếp từ lâu. Nếu con rành rẽ hơn về lịch sử, con hẳn biết đế quốc Khmer xưa của chúng ta vô cùng rộng lớn, bao gồm cả miền Nam nước con bây giờ. Người dân thường thì không quan tâm nhiều tới chính trị, nhưng những người có học, những người lãnh đạo Khmer luôn nghĩ Việt Nam và Thái Lan là những mối đe dọa lớn. Luôn nghĩ rằng Việt Nam và Thái Lan là những con hổ dữ sẵn sàng ăn sống nuốt tươi đất nước này. Bộ đội các con sang đây đánh đuổi bọn Pol Pot là một ân đức lớn đối với chúng ta. Nhưng mối thù truyền kiếp thì vẫn là mối thù truyền kiếp. Họ, những kẻ trí thức và những kẻ làm chính trị, luôn khắc sâu trong đầu định kiến đó, và họ sẽ không bao giờ quên nó. Các con à. Các con là những người lính. Các con phải làm tròn bổn phận của mình. Những người lính của các phe phái khác cũng vậy, họ phải làm bổn phận của họ. Trừ phi quân Việt Nam rút về, họ sẽ không bao giờ thôi chống đối các con và chống đối với nhà nước mới mà họ cho là thân Việt.”
Huy gật đầu. Điều mà vị sư già vừa nói với anh quả thật vô cùng mới mẻ. Ra là vậy, mọi việc đều có nguyên do của nó.
Lục tà Na Suk chợt lên tiếng:
- Các con coongtop chắc cũng mệt rồi, thôi hãy đi nghỉ sớm, mai còn lên đường. Chúng ta sẽ cầu nguyện cho tất cả các con luôn được bình an, và đất nước này nhanh chóng thoát khỏi cảnh chiến tranh tang tóc.”
***
Hai người lính mồ hôi đầm đìa, áo quần phủ kín bụi đường bước lên những phiến đá lót cầu bắt qua hào nước bao quanh đền Angkor Wat dưới ánh nắng chiều lay lắt. Năm ngọn tháp đồ sộ như năm ngọn lửa huy hoàng đang bùng cháy dưới ánh nắng chiều. Huy đứng lặng người với một cảm giác không thể tả. Là kinh sợ? Là kính ngưỡng? Là bàng hoàng? Hay là tất cả những cảm giác đó cùng trộn lẫn vào nhau?
Bình kéo tay Huy:
- Thôi chúng ta quay ra ăn cơm đã, đói lắm rồi. Ông cứ ở đây vài hôm, đi vòng vòng mà coi cho đã. Vội vàng gì.”
Hai người đi về phía tiểu đội của Bình. Có hai người lính đang ngồi trò chuyện trước một túp nhà tranh. Họ đứng bật dậy khi nhìn thấy Bình, một trong hai người là một cậu bé Khmer khoảng mười lăm mười sáu tuổi. Người lính kia la to:
- Anh Bình đã xuất viện rồi đó hả? Mấy tháng nay không có anh buồn quá.
Anh ta quay sang nhìn Huy dò hỏi. Bình cười tươi:
- Đây là anh Huy, cùng nằm viện với anh. Huy ghé đơn vị mình chơi vài bữa để tham quan khu đền cổ. Sao, chiều nay có gì ngon ngon để đãi khách không Bằng?” – Bình quay sang Huy, chỉ vào hai người lính kia – Bằng là thằng em nhập ngũ cuối 85, còn thằng nhỏ kia là Rai, trước là lính Pốt, kỳ đó tụi tui bắt được nó rồi cảm hóa nó gia nhập đơn vị luôn. Ở đây, tụi tui là lính giữ chốt nên thiếu quân dữ lắm. Có thêm Rai cũng đỡ cực.”
Bằng và Rai lo chạy vào nhà bếp nấu nướng. Huy và Bình đi ra hồ tắm táp. Khi họ quay về, cơm nước cũng đã chuẩn bị xong xuôi.
Sau bữa cơm chiều, Bình trao đổi với Bằng và Rai một số công việc rồi kéo Huy và hai người kia ra trước sân để uống trà.
Huy nhấp một ngụm trà rồi hỏi Rai:
- Trước khi về với bộ đội Việt Nam, em gia nhập lính Pốt lâu không?           
- Em đã được Angkar dạy cách gài mìn, bắn súng AK và B40 từ năm mười hai tuổi. Năm mười bốn tuổi bắt đầu tham gia lực lượng Khmer đỏ.
- Thế gia đình em còn có ai không?
- Cha mẹ em đều bị giết vì những lỗi rất nhỏ, hồi đó em khoảng năm tuổi, Khmer đỏ nuôi em và em làm việc cho họ. Sau đó họ bắt đầu dạy em cách dùng vũ khí.
Rai kể lại cho Huy nghe cuộc đời của mình. Nó bị cách ly khỏi cha mẹ từ lúc còn là một em bé. Cha của nó là một thầy giáo, cả cha và mẹ nó cũng bị chia cách ở hai phum cách nhau chừng 5km. Rai lớn lên cùng chín mười đứa bé khác do một người lớn chăm lo. Lên sáu bảy tuổi, nó đã bị bắt ra đồng làm việc. Một nhóm trẻ con phải kéo cày thay cho trâu bò. Thức ăn rất ít oi, đa phần là cháo. Mỗi tuần, bọn trẻ con được học một mẫu tự Khmer. Và chúng cho rằng thế giới chung quanh chúng đều tồn tại giống như chúng, chỉ biết bạo lực, lao động nhọc nhằn, luôn thiếu đói và xung quanh toàn là súng ống. Quân Khmer đỏ dạy bọn trẻ rằng kẻ thù chỉ cách chúng một cánh tay và chúng phải học những bài hát như Chiến thắng, Quyền lực, Chính quyền mới quyền lực mới, Đấu tranh tiêu diệt quân thù và Tất cả mọi người là một. Lần đầu tiên Rai được cấp khẩu AK47 là vào năm nó lên mười. Khẩu súng dài tương đương với chiều cao của nó và nó đã gặp không ít khó khăn trong việc tìm cách vác súng lên vai. Rai tập bắn bằng cách nhắm bắn vào những trái cây, thú vật nhỏ hay cá dưới sông. Quân Khmer đỏ có hàng đống vũ khí các loại và cho phép bọn trẻ được chọn lựa trong số các khẩu AK47, M16, M60, Kalashnikov. 




Rai được dạy bơi bằng một cách vô cùng đơn giản là bị ném xuống sông. Và nó đã suýt chết đuối nếu không được một người bạn khác kéo lên bờ. Đối với Khmer đỏ, mạng sống rẻ như bèo và chúng chẳng quan tâm tới việc sống chết của bất kỳ ai.
Bọn trẻ được cấp đồng phục gồm quần đen và áo đen để mặc và một chiếc khăn krama quàng cổ đỏ sọc trắng. Chúng mang những đôi dép làm từ vỏ xe.
Tới năm 1983 quân đội Việt Nam mới tiến vào Xiêm Riệp. Hai bên chiến đấu giằng co với nhau để giành quyền chiếm giữ các ngôi đền quanh khu vực Angkor. Quân Khmer đỏ chiếm giữ Ta Prahm và Preak Khan, còn quân Việt Nam chiếm Angkor Wat, Angkor Thom và ngọn núi Bakain.
Vào thời gian quân Việt Nam tiến vào Xiêm Riệp, Rai đang sống trong doanh trại của quân Khmer đỏ để học cách gài gỡ mìn. Quân Khmer đỏ đã bảo với bọn trẻ rằng quân Việt Nam là những tên khổng lồ, có những bộ răng to lớn và những bộ râu dài. Bọn trẻ đã vô cùng khiếp sợ. Sau đó, Rai rất vui mừng khi thấy rằng quân Việt Nam cũng có kích thước như mình.
Khi quân Việt Nam vừa tới, lực lượng của hai bên ngang bằng nhau. Nhưng sau vài ngày chiến đấu dữ dội, quân Việt Nam đã sử dụng xe tăng. Quân Khmer đỏ chưa bao giờ nhìn thấy xe tăng nên không biết đánh bằng cách nào, họ cố nổ súng vào những chiếc tăng và thấy chúng nằm im bất động. Quân Khmer đỏ cho rằng những chiếc tăng đã bị phá hủy và tiến tới gần. Ngay khi đó, một người lính Việt Nam nấp trong rừng ra hiệu, và từ chiếc tăng, những loạt đạn dữ dội nã ra đã giết sạch quân Pol Pot. Lần đó, Rai may mắn sống sót vì nó không tới gần những chiếc tăng, nhưng sau đó nó cũng đã bị những người lính Việt nam nằm phục trong rừng bắt được.
Và cuối cùng, những người lính Việt Nam với lòng tốt và sự đối xử chân thành của mình đã thuyết phục được Rai gia nhập vào đơn vị họ.[1]
Huy ngồi im nghe Rai kể lại câu chuyện đời của nó, cảm thấy chế độ Pol Pot thật là một chế độ kinh khủng ngoài sức tưởng tượng. Một chế độ biến con người trở thành con vật chỉ biết ăn và bắn giết.
Huy hỏi Rai:
- Em có yêu mến những người lính đồng đội Việt Nam này không? Có thấy chúng tôi khác xa bọn lính Pot chuyên đe dọa và giết chóc không?
- Có chứ, em rất yêu mến anh Bình, anh Bằng và nhiều anh khác nữa. Họ coi em như em út, chăm sóc lúc em đau ốm và không bao giờ đối xử hung dữ, tàn nhẫn với em như quân Khmer đỏ.
Đêm hôm đó, Huy nằm thao thức không ngủ được, mong cho trời mau sáng để vào tham quan khu đền Angkor Wat. Cuối cùng, anh thiếp ngủ đi vì mệt mỏi lúc trời gần sáng.
*****
Thế là Huy đã ở Angkor Wat được ba ngày, nhưng anh vẫn thấy rằng mình chưa nhìn ngắm đủ. Anh vẫn thấy lòng run lên với cảnh quan kỳ bí của những ngôi đền.
Những nụ cười Bayon bí hiểm ở Angkor Thom mà anh từng thấy trong các bức ảnh phải chăng ẩn chứa một dự cảm về số phận của dân tộc Khmer.  Tiếng gió hú qua những hàng cây cổ thụ kia phải chăng là tiếng khóc than của những linh hồn vĩ đại từng gầy dựng đô thị Angkor cổ? Nắng vàng long lanh như lửa thắp trên từng tầng tháp cổ Angkor Wat phải chăng là những giọt lệ của vua Jayavarman II, Suryvarman II và Jayavarman VII tiếc thương một thời vàng son đã mất, thời kỳ đế quốc Khmer trải rộng mênh mông khắp một vùng Đông Nam Á? Những đàn voi rừng lang thang đi qua khu đền tàn tạ thỉnh thoảng lại rống lên những hồi dài buồn bã, phải chăng cũng than khóc cho những gì đã mất? Khung cảnh điêu tàn nhưng hùng vĩ này phải chăng để chứng minh cho một chân lý: kết tinh của máu và nước mắt của vô số con người phải trường tồn mãi với thời gian. Như Vạn lý trường thành. Như Kim Tự Tháp…
Nền văn minh Angkor bắt đầu từ thế kỷ 9 và kéo dài đến thế kỷ 15. Khu đô thị Khmer cổ Angkor trải dài trên 1.150 dặm vuông Anh, nằm ở hướng bắc biển hồ Tông Lê Sáp, thuộc tỉnh Xiêm Riệp ngày nay. Hơn 100 ngôi đền đá, dù đã rêu phong tàn tạ, vẫn trơ trơ tồn tại dưới gió mưa suốt mấy trăm năm qua là những gì còn sót lại của cả một khu đô thị cổ lớn nhất thời kỳ tiền công nghiệp, bao gồm những dinh thự, công trình công cộng và nhà ở xây dựng bằng gỗ đã hoàn toàn bị hủy hoại bởi thời gian.
Sau khi bị vương quốc Ayutthaya (giờ là Thái Lan) xâm chiếm vào vào khoảng năm 1431, dân cư Angkor đã bỏ đi tứ tán. Khu đô thị cổ suy tàn dần và cũng chìm vào quên lãng. Trong hơn bốn trăm năm, nó đã bị vây bọc bởi những cánh rừng rậm mênh mông. Thỉnh thoảng, những vị du tăng đi hành hương băng qua những cánh rừng này nhìn thấy vết tích của những công trình đã suy tàn khủng khiếp. Họ cảm nhận được sự thiêng liêng huyền bí của những khu đền cổ, nhưng hoàn toàn không biết về nguồn gốc của chúng. Họ sáng tác ra những câu chuyện ngụ ngôn về các khu đền đó, và cho rằng chúng được những thần linh nào đó dựng lên vào một thời đại cổ xưa. Sau mấy trăm năm, những câu chuyện đó đã trở thành truyền thuyết. Và người ta chỉ biết rằng có một khu đô thị nào đó đã bị mất tích giữa những cánh rừng. Cho đến năm 1860, nhà thám hiểm người Pháp Henri Mouhot mới tìm ra nó. Và từ đó, những bí mật bị chôn vùi suốt mấy trăm năm của khu thành phố cổ dần được làm sáng tỏ.
Sau này, khi quay lại quê nhà, với tình yêu sâu nặng đối với đất nước Chùa Tháp, Huy đã tìm tòi và hiểu biết sâu hơn về Angkor, về lịch sử thăng trầm và một quá khứ vinh quang nhưng cũng rất đỗi đau thương của đất nước và dân tộc Khmer. Còn giờ đây, anh chỉ biết bàng hoàng lắng nghe những âm thanh kỳ bí vút lên qua những cửa đền Angkor Wat; nghe tiếng gió vi vu buồn thảm lướt qua những tầng cổ thụ. Anh chỉ biết bàng hoàng đứng lặng nhìn những tầng tháp cổ và cảm thấy một cái gì đó thật u buồn và vĩ đại tràn ngập trên từng nếp đá, tàng cây, nét chạm. Những vũ nữ Apsara trên vách đá dường như đang chuyển động nhịp nhàng với những vũ điệu diệu kỳ. Dường như trên nét mặt họ là những nụ cười buồn bã đầy cam chịu.
Huy còn đang đứng bần thần thì Bình xuất hiện. Nét mặt Bình vô cùng hớn hở. Anh chìa tay ra, trên tay anh là một tờ giấy chi chít chữ. Bình bảo:
- Tui vừa viết thư cho Xuân, ông đọc xem tui viết có cảm động hôn nghe!
Huy đón lá thư từ tay Bình, đến bên một gốc cây thốt nốt và ngồi xuống, chăm chú đọc lá thư. Bình viết những câu sai ngữ pháp, những từ sai chính tả, với sức học của một học sinh lớp năm. Nhưng tràn ngập trong từng câu chữ ấy là một tình yêu trong sáng, đẹp đẽ và sâu sắc. Đọc xong, Huy gấp tờ giấy lại, trao trả cho Bình, lúc đó cũng đang háo hức ngồi cạnh anh, chờ nghe lời nhận xét.
- Ông viết hay lắm, tôi đọc mà còn cảm động nữa, nói chi Xuân. Tôi chân thành chúc cho hai người sớm được ở gần bên nhau mãi mãi.
Bình kéo tay Huy:
- Thôi, vô cất lá thư rồi tụi mình đi một vòng săn bắn. Hôm nay nhất định tui phải đãi ông một món thật ngon để mai ông về đơn vị sẽ nhớ mãi thằng Bình này.
Cả hai xách súng đi vòng vòng cánh rừng ở hướng đông một lúc vẫn chưa phát hiện ra con mồi nào khả dĩ. Có một hai con chim to nhưng Bình lắc đầu, bảo thịt chúng ăn nhạt lắm, phải kiếm một con mễn hay heo rừng gì đó mới bỏ công nổ súng.
Bình chợt khẽ reo lên:
- Có đống phân heo còn mới toanh nè ông ơi. Con heo này chưa đi xa đâu, tụi mình nhất định phải hạ được nó.
Hai người lính đang dò dẫm lần theo những dấu chân mờ nhạt của con heo in trên lớp cát cứng dưới táng khu rừng, Bình đi trước Huy vài bước. Chợt Huy nghe một tràng liên thanh nổ xé tai ở sát gần bên. Anh ngã bật người xuống đất, lăn nhanh tới một gốc cây to và chĩa súng về hướng phát ra tiếng súng quất liên tục mấy tràng. Tiếng súng nổ dội lại vang vang từ phía rừng sâu thẳm bên trong. Bắn xong mấy loạt, Huy liếc nhìn lại chỗ anh và Bình đứng lúc nãy. Bình nằm bất động. Máu từ đầu và cả phần thân trên của Bình vẫn còn chảy ri rỉ, lấp lánh phản chiếu dưới những tia nắng lọt qua tàng cây thưa thớt trên đầu. Huy bật kêu lên: “Bình ơi!”
Bọn địch tập kích không biết chừng bao nhiêu tay súng, hay chỉ có một tên bắn lén, và sau loạt súng thình lình đã chạy trốn mất. Không khí xung quanh im lìm trở lại, chỉ còn tiếng lá cây kêu xào xạc và tiếng chim sâu luýt chuýt mơ hồ. Huy nằm im, thở thật khẽ và cố lắng nghe mọi âm thanh khác lạ. Một lúc lâu sau, hơn nửa tiếng, không gian vẫn im lìm lặng lẽ với bài ca không lời bất tận của rừng. Chợt Huy nghe ba tiếng súng nổ từng phát một, rồi tiếng gọi to ở phía ngoài cánh rừng, cách anh chừng ba trăm mét.
- Anh Bình ơi! Anh Huy ơi! – Giọng của Bằng.
 Huy hét to: “Bằng ơi! Anh ở đây! Bình bị đạn rồi!”
Khoảng vài phút sau, Bằng và Rai xuất hiện. Huy chồm người đứng dậy, chạy tới bên Bình. Anh lật ngửa Bình ra, ngực Bình nát toang, Đôi mắt Bình khép hờ, chỉ nhìn thấy tròng trắng. Huy đưa tay lên mũi Bình. Hơi thở đã ngưng. Nước mắt Huy chợt ứa ra. Anh kêu lên: “Bình ơi! Ông chết thật sao!”
Hai người lính kia chạy tới, quỳ gối bên cạnh xác Bình. Ba người lính nắm lấy đôi bàn tay và cánh tay của Bình, đôi mắt rưng rưng.
Mùa xuân không tới nữa. Và mùa đông này sẽ là mùa đông vĩnh viễn của Bình, Xuân ơi, Xuân có biết không?



[1] Nhân vật Rai dựa theo cuộc đời của Aki Ra - người sáng lập viện bảo tàng Land Mine Museum ở Xiêm Riệp.  Aki Ra đã được bầu chọn là một trong Top 10 CNN Heroes 2010 do thành tích gỡ mìn.
Để biết thêm chi tiết về Aki Ra, xin mời tham khảo website: http://www.talesofasia.com/cambodia-akira.htm.  Hoặc: cambodianselfhelpdemining.org

Mùa xa nhà - Chương XVII






CHƯƠNG 17 (*)


Ngày tháng lại tiếp tục trôi qua lặng lẽ, không có biến cố gì đặc biệt. Cho đến một đêm.
Đó là một đêm cuối thu. Những cơn gió rừng lạnh buốt thỉnh thoảng lướt ào qua, những cành lá trên đầu ba người lính rung lên xào xạc, những giọt sương đêm thấm đẫm đôi vai họ. Đêm phục đã trôi qua phân nửa. Còn khoảng bốn tiếng nữa trời sáng. Tuấn và Thuận ngồi dựa vào hai gốc cây, đang lim dim ngủ. Huy duỗi đôi chân ra, sửa lại thế ngồi cho thoải mái hơn, thầm nghĩ thôi để cho Tuấn ngủ thêm một chút hẳn đổi ca trực chiến. Những câu thơ chợt nảy ra trong đầu khi nãy đã đẩy lùi cơn buồn ngủ của anh. Huy ngẩng đầu nhìn lên. Vầng trăng như một mảnh lưỡi liềm bằng sứ đã di chuyển chếch về hướng tây nam, tỏa xuống một ánh sáng nhạt mờ. Đột nhiên, dường như Huy nghe thấy có những âm thanh gì đó mơ hồ không rõ vọng lại từ phía bắc con đường rừng. Anh nhoài người ra, úp tai lên mặt đất, chú ý lắng nghe một lúc. Đúng là có tiếng chân bước lao xao và tiếng bánh xe bò nghiến trên đất cứng.
Tiếng bánh xe bò kẽo kẹt dần dần rõ hơn và ngày càng tiến tới gần điểm phục kích. Rồi từ mé góc rừng, dưới ánh trăng non lờ mờ xuất hiện hình dáng của một toán người, theo sau lưng họ là một đoàn năm sáu chiếc xe bò. Trên xe và phía sau đoàn xe cũng thấy lố nhố bóng người đang rảo bước. Huy khoác tay ra hiệu cho Tuấn cóc và Thuận sẵn sàng nổ súng. Đây không phải là thường dân. Đây là địch, hoặc dân buôn lậu đường biên. Bởi người dân ở vùng biên giới mất an ninh này không bao giờ dám di chuyển trong đêm tối. Đoàn xe và người đã tới gần hơn, đủ để Huy nhận ra trên ba chiếc xe có hình dáng của những người phụ nữ. Huy quay sang Tuấn, khẽ lắc đầu.
Những đêm đi phục thế này, mấy người lính thường đụng địch. Nhưng thường đó là một toán lính Pốt lẻn vào mấy phum lân cận để kiếm ăn hoặc tìm cách tiếp cận tập kích cứ điểm của bộ đội Việt Nam. Và chưa bao giờ Huy thấy có đàn bà xuất hiện. Phải làm sao? Để chúng đi luôn? Nổ súng? Trong đầu Huy, hai luồng ý nghĩ trái ngược nhau còn đang giằng xé thì toán đi đầu đã vượt qua khỏi vị trí gài mìn ĐH của anh. Đúng là địch thật rồi. Hình dáng mấy khẩu AK báng xếp và B40 Trung Quốc nổi lên mồn một dưới ánh trăng. Trong tích tắc, một quyết định chợt đến với Huy. Huy quờ tay qua, bấm nhẹ vào vai Tuấn và Thuận và chỉ ra hai hướng – ám hiệu tản rộng đội hình, rồi mở khóa an toàn. Tổng cộng địch có khoảng mười tay súng. Nhóm bộ đội Việt Nam đi phục chỉ có ba người. Nhưng họ có lợi thế là giấu mình trong bóng tối và có thể nổ súng trước để giành chủ động.
Huy quyết định không nổ mìn mà chỉ cần nổ súng uy hiếp. Anh thầm ước lượng ngay trong loạt đạn đầu của nhóm ít ra cũng hạ được phân nửa số tay súng địch. Số còn lại sẽ tính sau. Chủ yếu là không được bắn vào mấy người phụ nữ. Toán đi đầu chỉ còn cách nhóm phục không đầy mười mét.
Mấy tên lính địch đều vác súng trên vai. Chúng sẽ phải mất thêm ít nhất hai giây để hạ súng xuống phản công. Tên đi đầu chỉ còn cách Huy năm mét. Huy giơ súng lên và tỉa luôn mấy phát điểm xạ hai. Thuận và Tuấn cũng đồng loạt nổ súng sau Huy không đầy một giây. Mấy con bò hốt hoảng lồng lên chạy, chở theo những người phụ nữ. Sau loạt bắn đầu tiên, đã có bốn tên bị hạ, trong đó có hai tên vác B40. Bọn còn lại chạy tản ra những gốc cây ven đường mòn và phản kích. Hình như chúng cũng đoán biết lực lượng đối thủ không nhiều lắm qua mấy loạt súng. Đây là những tên địch thiện chiến đầy kinh nghiệm. 
Tiếng súng đì đẹt khuấy động góc rừng một lúc lâu. Rõ ràng bọn địch này vô cùng ngoan cố, chúng bắn trả cầm chừng, không hề phí đạn, và quyết không chịu rút đi. Huy suy nghĩ và nhận ra chúng muốn lấy xác của những tên đồng đội. Quyết định tiếp cận địch gần hơn để dứt điểm chúng, Huy hét to:
- Các bạn bắn mạnh yểm trợ cho tôi lên!
Thuận và Tuấn quét mấy loạt đạn dài. Huy lợi dụng lúc đó để bò lên phía trước. Gốc cây nơi một tên địch đang ẩn nấp và phản kích chỉ còn cách không đầy sáu mét. Huy lăn mình vào một gốc cây khác và xả một loạt đạn về phía hắn. Tiếng súng phản kích từ chỗ tên địch tắt hẳn. Bọn còn lại sau khi nổ thêm vài loạt đạn cũng rút êm vào rừng. Một phút sau, trận địa đã im lìm trở lại. Huy vẫy tay, gọi Tuấn và Thuận lên thu lượm vũ khí của mấy tên địch nằm bỏ xác. Anh tiến tới gần gốc cây chỗ tên địch nằm lúc nãy. Ánh trăng mờ mờ vừa đủ cho anh nhìn thấy một khối đen đang nằm bất động. Anh bước tới gần hơn. Đột ngột, một ánh lửa nhoáng lên kèm theo tiếng súng từ khối đen đó. Huy thấy đùi phải mình chợt lạnh buốt trong một thoáng và cả thân người chợt nhũn ra. Anh ngã vật xuống lớp đất đẫm sương đêm, tai còn nghe loáng thoáng tiếng súng nổ vài loạt ngắn.
Tên địch chỉ bị thương nhưng chưa chết, và hắn đã chờ anh bước tới gần để giáng một đòn thù. Ngay sau khi Huy bị bắn, Tuấn đã lao tới quét một loạt đạn kết liễu hắn ta. Huy thở hổn hển, đưa tay xuống đùi, máu đang chảy loang ướt đẫm một bên ống quần bị xé toang.
                                                            ***
Huy ngồi trên cái băng đá dưới bóng hàng dầu râm mát ngoài sân quân y viện. Những con chim sâu đang nhảy nhót tìm mồi trên tàng cây rậm.
Mùa xuân sắp trở về.
Cùng với mùa sắp đổi, mấy cô y tá hình như cũng điệu đà hơn với một lớp son môi. Huy mỉm cười nhìn họ. Ở đây chỉ rặt thương bệnh binh. Bệnh binh thì không kể, còn thương binh, nhẹ nhất cũng cỡ anh – gãy xương đùi. Còn có nhiều người cụt một chân, hai chân hay những vết thương nặng hơn. Mấy cô làm duyên ở đây hình như không hợp chỗ. Nhưng có sao đâu, Huy nghĩ lại. Họ làm đẹp để những người lính thêm yêu cuộc đời này, thêm dũng khí để tồn tại với một cuộc sống mới, với thân phận một người tàn phế. Họ thật dễ thương và cao quý. Họ cũng phải xa gia đình, xa quê hương và chịu đựng nhiều thiếu thốn ở đây. Thế nhưng họ vẫn yêu đời, vẫn giữ trên môi những nụ cười hiền dịu.
 Quân y viện mùa này chật ních thương binh và bệnh binh. Từ các đơn vị chiến đấu, những người lính được đưa về đây điều trị hoặc nằm chờ chuyển về nước. Nằm ở chiếc giường kế bên giường Huy là một tay trinh sát, tên Bình. Bình bị thương ở vùng ngực nhưng cũng đã bình phục sau hơn sáu tháng ở đây. Đơn vị anh ta đóng chốt bảo vệ khu vực Angkor. Bình đã rủ Huy qua đó chơi vài ngày khi cả hai được xuất viện. May một điều là bác sĩ Toàn phụ trách khoa ngoại đã thông báo rằng cả hai sẽ được xuất viện cùng một lúc, hai ngày nữa. Và Huy rất nôn nao với chuyến du lịch bất ngờ này. Anh từng nghe nói nhiều về Angkor, một công trình kỳ vĩ, và luôn ước ao có dịp tới đó một lần.
Bình đang bước tới gần. Trên tay anh là một xâu bò cạp nướng. Huy cười, cất tiếng chào:
- Ông mới đi ra chợ về hả?
- Ừ, gặp con bé bán bò cạp kia ngồ ngộ, tui hỏi thăm nó vài câu, nó tặng cho tui một xâu nè. Ăn chơi cho biết há ông.
Bình ngồi xuống băng đá. Anh bẻ làm đôi thanh tre xỏ lủng lẳng mấy con bò cạp, đưa cho Huy một nửa. Cả hai im lặng nhấm nháp. Ăn xong, Bình đưa tay áo lên chùi miệng, bảo Huy:
- Mấy ông ở bên đó chắc ít bò cạp phải hôn? Chỗ tui thì hàng tỉ. Chúng bò lúc nhúc trong mấy khe đá, rễ cây, hốc tường. Nhưng tụi tui không ăn bò cạp. Chim chóc thú rừng thiếu giống gì. Xách súng đi một vòng là về có thịt tươi rồi.
- Cũng có chứ – Huy đáp – nhưng ít thôi. Hồi còn ở Ampil, đi đào giông, tụi tui hay gặp những con to kềnh nằm trong hang. Cũng chưa ăn bao giờ. Mấy con này chỉ có cái vỏ, chút xíu thịt chẳng bỏ dính răng. Nhưng phải nói thật, hì hì, bữa nay ăn thấy cũng ngon ngon.
Bình xoay người nhìn theo dáng một nữ y tá thấp thoáng ở đằng xa một lúc, rồi quay sang Huy.
- Nè, hôm nay sao thấy Xuân đẹp hơn mọi bữa nha ông.
- Xuân thì lúc nào chả đẹp, cổ là hoa khôi ở đây rồi – Huy nháy mắt với Bình – Ông thật khôn ghê, lựa cô nàng hoa hậu mà thích. Mà tui thấy cổ cũng mến ông lắm đó. Sao, có thề hẹn gì chưa ông bạn. Để sau này về nước cho tui uống rượu mừng với chứ.
- Có thề hẹn gì đâu – Bình cau mày – Đời lính chiến tụi mình rủi nhiều may ít. Đợt này bị thương còn nhẹ đó. Không biết từ nay đến ngày về, có còn dính cú nào nữa không. Ông Huy nè, nói thiệt tui thương Xuân lắm. Nhưng không dám nói gì hết. Xinh đẹp như cổ thiếu gì người theo đuổi, mấy cha bác sĩ cũng mê cổ lăn lóc hổng thấy sao? Mình là cái thá gì, với lại, hứa hẹn rồi mà lỡ tui bị gì tội cho Xuân lắm – Nói hết câu Bình thở dài, nét mặt buồn buồn.
- Ờ, đời mình chưa biết ra sao hả ông. Tui cũng có thương một cô bé Khmer, nhưng thương vậy thôi, chứ làm sao tới được…”  Huy cũng thở dài. Anh bỗng thấy rất nhớ Soun.
****
Hai người lính và một nữ y tá bước trên con đường dẫn ra cửa viện quân y. Người nữ y tá cầm một túi vải nhỏ, hình như do chính cô may lấy. Họ bước rất chậm, hình như không muốn kết thúc sớm cuộc chia tay. Và họ không nói một lời nào, chỉ lặng lẽ bước đi. Người nữ y tá chính là Xuân, người mà Bình rất thương nhưng không dám ngỏ lời. Xuân quê ở Thái Bình. Một cô gái Bắc xinh đẹp và đằm thắm. Cô yêu Bình. Ánh mắt của cô nhìn anh những lúc tới chăm sóc các thương binh trong phòng đã nói lên điều đó. Nhưng cô là con gái. Cô không thể nói gì một khi người con trai chưa nói. Nhiều khi Huy quan sát những lời lẽ, thái độ của cả hai người, lòng gợn lên nhiều dấu hỏi về cuộc sống, tình yêu và chính cuộc chiến này. Bình không nói vì anh thương yêu Xuân hơn cả bản thân, vì không muốn cô phải đau khổ vì anh nếu lỡ ra anh bị hy sinh. Và Xuân không nói là vì cô chờ đợi. Còn anh, anh đã nói với Soun được gì đâu!
Cả ba đã bước tới cổng quân y viện. Xuân dừng lại. Hai người lính dừng lại. Cô gái trẻ nhìn Bình với ánh mắt thiết tha. Cô vẫn chưa nói gì. Vẫn đợi. Cuối cùng, Bình lên tiếng:
- Thôi Xuân vào đi nha. Cám ơn Xuân đã tiễn tụi tui – Anh dừng lại một lúc, hình như cổ bị nghẹn, rồi nói tiếp – Chúc Xuân công tác tốt, sớm được chuyển về nước, và có nhiều hạnh phúc trong cuộc sống.
Xuân vẫn nhìn anh. Vẫn không nói gì. Vẫn đợi.
- Cám ơn Xuân nhé – Huy lên tiếng – Tôi cũng xin chúc Xuân gặp nhiều may mắn trong cuộc sống – Anh quay sang Bình, thúc nhẹ khuỷu tay vào lưng anh ta. “Nói gì đi chứ ông nỡm, một câu gì cho người ta vui thôi mà!” Anh thầm kêu lên.
Đôi mắt Xuân đã bắt đầu đỏ lên và long lanh ngấn nước. Cô đưa cái túi vải ra, nghẹn giọng:
- Hai anh về đơn vị công tác bình yên cho đến ngày về. Trong túi có một số thuốc bổ và vitamin, anh Bình giữ dùng dần. Em đi vào đây.
Bình lặng lẽ gật đầu. Anh cầm lấy cái túi vải, bàn tay khẽ run lên. Huy nhìn sâu vào mắt Bình, và thấy trong đôi mắt sáng đang chăm chú nhìn Xuân có muôn ngàn điều muốn nói. Thế nhưng anh ta vẫn chẳng nói gì.
Xuân chìa tay ra, bắt tay Huy trong một thoáng thật nhanh. Rồi cô chuyển sang Bình. Bình đưa tay nắm lấy bàn tay bé nhỏ của cô. Hai bàn tay như hai thỏi nam châm chợt dính chặt nhau và dường như không thể tách rời được nữa. Một lúc lâu. Cuối cùng, Bình nới lỏng bàn tay, và Xuân ngượng ngùng thu bàn tay của mình về. Cô quay lưng bước thật nhanh,  đôi vai run rẩy và hình như đang cố kềm tiếng khóc.
Xuân đã cách gần một trăm mét. Hai người lính vẫn đứng đó, nhìn theo cô. Đột ngột, Bình như không còn tự chủ. Gương mặt anh nhăn lại, đầy đau đớn. Rồi anh bỗng hét thật to:
- Xuân! Xuân ơi!
Bình lao về phía Xuân. Cô gái quay lại, ngỡ ngàng, mừng rỡ. Cả hai ôm chầm lấy nhau, một lúc lâu. Xuân nép gương mặt xinh xắn vào vai Bình. Và dường như hai người đang thì thầm những lời gì đó. Những người thương binh đang đi lại trên con đường nhìn họ, mỉm cười đầy thông cảm. Và tại cổng quân y viện, Huy cũng mỉm cười nhìn họ, xúc động và vui mừng. Cuối cùng, hai kẻ yêu nhau cũng đã nói được những gì cần nói với nhau.

_________
Chú thích: Chương 17 và 18 không có trong bản in năm 2004 của NXB Trẻ.